Hiển thị các bài đăng có nhãn Núi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Núi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 13 tháng 9, 2010

Đại Lãnh, một thắng cảnh được vinh danh trên Cửu Đỉnh

Lần nào có dịp vào Huế, tôi cũng đến chiêm ngưỡng Cửu Đỉnh, tức 9 cái đỉnh bằng đồng được đúc từ cách đây hơn 170 năm khi mà nhà Nguyễn đang hồi thịnh trị. Chính Quốc sử quán triều Nguyễn còn ghi lại 9 cái đỉnh này sẽ là “báu nước muôn đời”. Việc đúc khá kỳ công trong gần 3 năm 1835-1837. Những danh thắng đẹp nhất nước Nam được tuyển chọn ngặt nghèo để thợ xứ Huế tôn vinh, khắc hoạ trên những chiếc đỉnh đồng này.

Từ Cửu đỉnh…

Một triều đại đã qua đi, nhưng Cửu Đỉnh vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” giữa sân Hoàng Thành. Cái đẹp nhuốm màu thời gian còn lưu dấu sắc xanh nâu của ánh đồng và cái bề thế uy nghi của một dãy Cửu Đình đã là một tài sản vô giá và đích thực của nghệ thuật triều Nguyễn. Số phận 9 cái đỉnh này cũng hé mở khá nhiều tình tiết lịch sử liên quan đến triều đại Phong Kiến cuối cùng nước ta. Cao Đỉnh là chiếc đỉnh tương ứng vị vị Vua đầu tiên là Gia Long, thứ hai là Nhân Đỉnh tương ứng với Minh Mạng là vị Vua sai đúc cả 9 đỉnh này.

Sau đó còn có 11 vị Vua nữa nhưng chỉ có 5 vị được tôn vinh bằng cách đặt tên đỉnh, 6 vị không được đặt tên mà mặc dù vẫn còn 2 đỉnh (Dụ Đỉnh và Huyền Đỉnh) vẫn bỏ trống tên Vua. Vậy là ngay thâm cung bí sử triều đại này cũng còn phải được giải mã vai trò của các vị Vua chưa được đánh giá cao này, trong đó có cả vị Hoàng Đế cuối cùng là Bảo Đại. Dòng lịch sử cứ trôi theo dòng đời mà 9 cái đỉnh như một pho sử sống sinh động ẩn tàng nhiều bí ẩn của một triều đại như thách đố các thế hệ sau.

Đi tìm Đại Lãnh

Quả là Cửu Đỉnh đã hun đúc được mọi cảnh vật và đặc sản nước Nam thông qua các hình chạm khắc nghệ thuật. Có thể đếm được 153 tấm chạm khắc đồng trên Cửu Đỉnh. Đáng lưu ý, một vùng biển đẹp của nước ta cũng được nhà Nguyễn vinh danh trên đó, đấy là Đại Lãnh.

Bãi biển Đại Lãnh được khắc trên Tuyên Đỉnh (hàm nghĩa là sự sáng tỏ và ứng với vị Vua Khải Định) có chiều cao 1,89 m đường kính 1,63 m nặng xấp xỉ 2 tấn đồng.
Không chỉ nhà Nguyễn đánh giá cao bãi biển Đại Lãnh mà ngay cả tổ chức du lịch thế giới cũng đánh giá nơi đây là một trong những thắng cảnh đẹp nhất ở Đông Nam Á.

Hấp dẫn bởi một cái tên Đại Lãnh trên Cửu Đỉnh, chúng tôi đã làm một chuyến du khảo đến nơi non xanh nước biếc, sóng vỗ lao xao này.
Đại Lãnh (huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà) đẹp như tự nhiên vốn thế. Một bãi biển trải dài khoảng 3 km, cát mịn trắng phau, thoai thoải. Tắm biển ở đây có thể ra xa bờ hàng chục mét mà vẫn chưa ngập đầu người. Nước biển xanh ngăn ngắt mà độ mặn khá cao, có thể nằm duỗi tay duỗi chân bềnh bồng trên mặt biển được. Quả là “danh bất hư truyền”, những bãi biển Nha Trang, Đồ Sơn, Bãi Cháy chắc là khó sánh nổi.

Nơi đây lại có cảnh núi rừng ngoạn mục kề bên. Bắc là 12 km đèo Cả quanh co, nam là đèo Cổ Mã mà nhìn xa như dáng một chú ngựa đang lao xuống tắm biển Đông. Thế đất “biển một bên và núi một bên” ấy đúng là sơn thuỷ hữu tình mà trời ban cho tỉnh Khánh Hoà vậy. Mà những hàn lâm học sĩ triều Nguyễn cũng phải có con mắt tinh đời lắm mới tôn vinh Đại Lãnh trong biết bao nhiêu bãi biển dọc 2000 cây số bờ biển nước Nam.

Đại Lãnh lại có một điểm mạnh nữa, là nơi giao nhau giữa con đường xuyên Việt-quốc lộ số 1 và đường sắt Bắc Nam, cực kỳ thuận lợi cho du khách. Có thể đi máy bay đến sân bay Nha Trang rồi ngược đường bộ 80 km hoặc đến sân bay Tuy Hoà rồi xuôi nam khoảng 25 km là tới nơi. Nếu đi đường sắt thì Đại Lãnh có một nhà ga trùng tên nằm ngay gần trung tâm phố thị. Còn đi đường bộ lại càng tiện nữa. Khi mà nằm giữa trục đường huyết mạch số 1, tiện lợi cho các xe du lịch đường dài có cả ghế nằm lẫn ghế ngồi như các hãng Mai Linh, Hoàng Long, Open Tour…

Cho đến hôm nay, Đại Lãnh vẫn còn giữ nguyên được nhiều vẻ đẹp hoang sơ. Đến đây, du khách mới chỉ cảm nhận được hai dãy phố, dăm ba khách sạn, hàng quán. Đây đó, người ta còn như được trở về với quá khứ vài chục năm trước, khi ngắm nhìn một nhà ga xép Đại Lãnh hay một chợ Đại Lãnh được xây từ lâu lắm, đến nỗi rêu phong còn bám trên các bức tường, lều quán liêu xiêu. Đấy mới chỉ là “mặt tiền” trên đường lộ của Đại Lãnh, còn thì muốn tìm về cái đẹp của Đại Lãnh phải bước chân xuống bãi biển. Thuyền bè tấp nập, san sát. Sẽ thực sự thú vị khi vào lúc bình minh, ngắm mặt trời vừa nhô lên cũng là lúc thuyền tấp nập vào bờ trút tôm, cá, cua, mực cho các mối hàng. Cái lao xao của phiên chợ biển chỉ kéo dài vài tiếng rồi lại trả lại vẻ bình yên cho làng chài. Rồi đây, theo quy hoạch, một phần bãi biển sẽ dành cho một cảng cá lớn. Tôi cũng khó hình dung cảng cá mai này, nhưng thấy được cái cảnh trên bến dưới thuyền của ngày hôm nay là đã vui mắt lắm rồi.

Dọc bờ biển dài là rừng phi lao xanh mướt mát, lộng gió. Dường như chưa có một công trình đáng kể nào khai thác du lịch nơi đây. Đến Đại Lãnh, ngoài bãi biển hoang sơ đẹp tuyệt vời, du khách lại còn có dịp thưởng thức món đặc sản Lẩu mực tươi nguyên vừa câu được dưới biển mà giá lại thuộc loại rẻ nhất trong các bãi biển hiện nay. Quý khách lại có thể đi theo các thuyền câu mực, câu cá chình của dân làng chài ven biển cũng là một thú vui khó quên.

Trời Đại Lãnh trong xanh, biển Đại Lãnh mặn mòi mà khoáng đạt, có nhìn Đại Lãnh trên bản đồ Google mới thấy được cái thềm biển trời cho, nhìn ra biển Thái Bình Dương bao la và cả một vùng thắng cảnh liên hoàn thuộc loại đẹp nhất trời Nam.

Kề sát Đại Lãnh về phía Bắc là đèo Cả quanh co 12 km. Đi trên xe du lịch vào buổi chiều tà mà ngắm bãi biển Vũng Rô dưới chân đèo xanh ngăn ngắt, cũng là một vũng biển nổi tiếng. Cạnh Vũng Rô còn có một ngọn Hải Đăng cổ kính từ thời Pháp thuộc làm hoa tiêu cho thuyền bè qua lại. Dọc đường xuôi đèo Cả, du khách còn được ngắm cảnh đẹp Đá Bia: thiên nhiên khéo dựng một “bia đá” chon von án ngữ đỉnh núi để làm cho bâng khuâng khách thơ nhiều thế hệ. Quanh Đá Bia cũng còn có nhiều truyền thuyết dân gian của người Chăm, một thời là cư dân bản xứ nơi này.

Từ Đại Lãnh, nếu có thời gian, du khách còn có thể xuôi về phía nam để đến một vùng du lịch đẹp không kém, là vịnh Vân Phong. Vịnh còn đang nguyên sơ nhưng chỉ chưa đầy chục năm nữa thì nơi đây mọc lên khá nhiều công trình thế kỷ: một cảng nước sâu thuộc loại nhất nhì Đông Nam Á vì án ngữ con đường hàng hải quốc tế qua biển Đông, lại còn hàng loạt dự án khu resort tầm cỡ đầu tư hàng tỉ đô la ven vịnh này.

Có thể từ Đại Lãnh theo con đường do Tổng cục du lịch mới mở rẽ từ Quốc lộ số 1 đi khoảng 20 km là đã đến thăm được các làng chài nguyên khai như làng Khải Lương, Đầm Môn… nơi mà khách lãng du có thể thấy được các bãi biển cát trắng phau cạnh làng chài, được tham quan các lồng bè nuôi tôm hùm. Du khách cũng có thể theo các tàu thuyền du lịch đi lặn ngầm ở các rạn san hô để xem cá lượn tung tăng. Cảnh ở đây cũng điểm xuyết những “hòn non bộ” là các bãi đá đủ hình dáng lô nhô như mọc lên từ đáy biển. Ven bờ vịnh Vân Phong còn có một làng chài đặc biệt có tên gọi là Sơn Đừng, nơi mà cư dân cư trú ngay ven biển, nhưng lại thạo nghề phát rừng hơn, họ cũng có màu da đen hơn và hình dáng cũng khác biệt chút ít với người địa phương. Nghe nói họ từ một vùng xa xôi nào đó theo biển mà dạt về đây và được người địa phương gọi là người “Đàng Hạ”.

Du khách cũng đừng quên đến thăm Mũi Đôi, nằm trên bán đảo Hòn Gốm của vịnh, là nơi đất liền của tổ quốc được đón ánh mặt trời đầu tiên trong ngày. Có du khách đã từng đo toạ độ điểm cực đông của tổ quốc bằng máy GPS là: 109027’899’’ kinh độ Đông.

Những người yêu thích lịch sử vịnh Vân Phong cũng có thể đến thăm lại nơi từng là làng cổ cách đây 2500 năm vừa được khai quật năm 2009 và các hiện vật đã mang về trưng bày tại Bảo tàng Khánh Hoà, những rìu đá, các loại vòng trang sức đá, bàn mài, chày nghiền, cả di cốt người xưa nữa. Làng cổ cũng nằm ven bờ vịnh và có địa danh ngày nay là làng Vĩnh Yên, xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, Khánh Hoà.

Thế là chỉ cần một khoảng thời gian 2 ngày đã có thể có một chuyến du khảo thú vị đến một vùng biển nổi tiếng Đại Lãnh và cả một vùng đầy tiềm năng du lịch kề bên là vịnh Vân Phong, Mũi Đôi, Vũng Rô, Đá Bàn vừa thấy được cái chất hoang sơ, vừa thấy được cái chất thoáng đạt của một vùng biển trời bao la.

Bài: PGS.TS. Trịnh Sinh
Theo: Travellive

Chủ Nhật, 12 tháng 9, 2010

Khám phá đèo Ngoạn Mục

Đèo Ngoạn Mục hay còn gọi là đèo Sông Pha là một trong những đèo núi đẹp nhất Việt Nam tại tỉnh Ninh Thuận, men theo những sườn núi dựng nối thung lũng Ninh Sơn với cao nguyên Lang Biang.

Ngọn đèo 18 km, men theo những sườn núi dựng nối thung lũng Ninh Sơn với cao nguyên Lang Biang đã mang trong mình nhiều huyền thoại gắn với cuộc hành trình khai mở thành phố Đà Lạt.
Với nhiều khách lữ hành, hình như mỗi lần đi qua đó, thiên nhiên hoang dã, sự hùng vĩ núi non Ngoạn Mục đem lại nhiều trạng thái cảm giác khác nhau...

Ngoạn Mục là con đường được hình thành trong vất vả, giữa lam sơn chướng khí và sự rình rập của thú dữ. Năm 1893, Yersin phát hiện ra Đà Lạt, thì bốn năm sau, trong kế hoạch xây dựng thành phố này, viên Toàn quyền Doumer đã phái một đoàn lên nghiên cứu thực địa, lập bản đồ mở tuyến đường từ Phan Rang lên Đà Lạt. Lộ trình ấy phác thảo một hướng đường bộ, tức đèo Ngoạn Mục ngày nay.

Dài 18 km, đèo Ngoạn Mục có tất cả 4 đoạn cua khuỷu tay rất gấp, uốn lượn mềm mại qua những sườn đồi núi lớn, nhỏ khác nhau theo hình vòng sóng, tạo nên những tầng đường ngoạn mục như chính tên đèo. Từ chân đèo, du khách chứng kiến cái nắng nóng khắc nghiệt của thời tiết mùa hè ở xứ muối trắng tinh của Ninh Thuận, thì khi vượt chừng 1/3 đèo, đã cảm nhận được từ dáng vẻ êm đềm, mát lạnh của xứ sở có khí hậu ôn hòa. Thực tế sinh động hiện ra trước mắt toàn bộ khung cảnh đồng quê bên dưới chân đèo như được trải một màn sương mỏng. Đứng trên khúc của Eo Gió, với độ cao hơn 1500 mét, phóng tầm mắt ra xa thấy con đường như sợi chỉ luồn qua bao núi non trùng điệp, san sát những mái nhà và những vườn cây trái, và “ sợi chỉ” quốc lộ 27 ấy vắt xuống đồng bằng, xuyên trong mây mù, chạy hun hút tầm mắt về miền biển cả…

Giữa lưng đèo, du khách khám phá thác Sakai thơ mộng, hùng vĩ. Tiếng chim hót líu lo vang lên đây đó, tiếng rền của các thác nước reo vui hòa lẫn trong ánh nắng ấm áp xen qua tán lá rừng vang vọng vào tai, tạo nên bản nhạc rừng hoang dã, lạ kỳ… Du khách thoải mái ngắm nhìn thế giới của các loài thực vật- động vật sinh sôi trong sức sống mơn mỡn của rừng xanh đại ngàn. Mùi hương tự nhiên của hoa và lá phảng phất trong không trung, thoáng đó đây những chú khỉ, chồn, chim muông thoắt ẩn, thoắt hiện. Tất cả tạo nên một bức tranh sống động, hùng vĩ đến mê hồn.

Ngao du đèo Ngoạn Mục, du khách sẽ được tìm hiểu, khám phá về những câu chuyện xung quanh tuyến đường sắt răng cưa độc nhất vô nhị ở Châu Á. Thời Pháp thuộc, trong chương trình phát triển đường sắt, năm 1898, tuyến lên Langbian (Đà Lạt) được xác định là một trong những tuyến đường sắt xuyên Đông Dương. Năm 1908, dự án đường sắt Tháp Chàm- Đà Lạt bắt đầu khởi công xây dựng. Đây là tuyến đường sắt độc đáo nhất Đông Dương hồi đó, từ việc thiết kế, thi công cho đến thưởng ngoạn khi đã hoàn thành. Để có 16 km đường răng cưa từ Krongpa đến Eo Gió, phải vượt lên độ cao 1.000 mét với độ dốc 12%, đục ba hầm xuyên núi vẫn ở độ dốc đó. Hàng vạn công nhân từ khắp nơi trong nước cùng với đội ngũ kỹ thuật viên người Thụy Sĩ và Pháp đã phải thi công bằng phương pháp thủ công ròng rã trong mười năm trời. Rất nhiều năm sau đó, toàn bộ tuyến đường mới hoàn chỉnh với chiều dài 84 km, trong đó đoạn Eo Gió- Krongpa là chặng đường gay go và hiểm trở nhất. Với chiều dài khoảng 10 km nhưng mỗi năm người ta chỉ xây dựng được trung bình có 1 km.

Nói đến đường sắt Tháp Chàm- Đà Lạt mà nay là đoạn ngắn Đà Lạt- Cầu Đất dài 7 km đã được phục hồi sử dụng, đầu tiên phải nói đến nhà ga Đà Lạt. Đây là một trong hai công trình kiến trúc ở Lâm Đồng được xếp hạng di tích lịch sử- văn hóa quốc gia. Ga Đà Lạt gắn liền với tên tuổi của kiến trúc sư người Pháp Moncet. Công trình khởi công năm 1932 đến năm 1938 mói chính thức khánh thành.

Ga Đà Lạt hiện còn lưu giữ chiếc đầu máy hơi nước chạy bằng than củi, do Nhật Bản sản xuất năm 1936. Tuy chỉ đi trên đoạn đường dài 7 km nhưng cũng có thể góp phần biến những hoài niệm xa xưa trở về và thu hút du khách đến với non ngàn cao nguyên, thưởng lãm những danh thắng nổi tiếng đầy thú vị.

Du khảo, khám phá đèo Ngoạn Mục, du khách còn được chiêm ngưỡng một công trình thủy điện đầu tiên của Việt Nam-Nhà máy Thủy điện Đa Nhim. Công trình được khởi công xây dựng từ ngày 27-2-1962, đến tháng 12-1964, toàn bộ công trình được đưa vào sử dụng, với công suất 160 MW. Hiện nay Đa Nhim vẫn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống điện quốc gia với năng lượng điện cung cấp ổn định, bình quân đạt khoảng 1 tỷ KWh/năm, hòa chung với dòng điện cả nước phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hơn một thế kỷ trôi qua, con đường đèo đã được mở rộng sửa chữa nhiều lần. Trên sườn đèo, hai ống nước nằm vắt từ đỉnh đèo nối xuống Nhà máy Thủy điện Đa Nhim, đêm về đèn sáng lấp lánh như một vệt sao chổi. Với địa thế khá hiểm, Ngoạn Mục trở thành đoạn đường thú vị cho một tour bằng xe đạp, xe máy, ô tô… hấp dẫn trên đường từ phố núi Đà Lạt xuôi về duyên hải nắng gió Phan Rang.

Trong những năm trở lại đây, không riêng gì tỉnh Ninh Thuận, tỉnh Lâm Đồng cũng đã kêu gọi, đầu tư và hình thành những loại hình du lịch lữ hành, khám phá như leo núi, cắm trại, dã ngoại, xây dựng các khu nhà nghỉ, khu văn hóa dân tộc, khu nuôi động vật bán hoang dã hay các khu vui chơi mạo hiểm gắn với suối- thác, thu hút được đông đảo du khách trong và ngoài nước tham gia. Đèo Ngoạn Mục đang trở thành một điểm đến của du khách thập phương. Xuân về bạn hãy bạn sẽ có một cái tết đầy thú vị và nhiều kỷ niệm.

Theo Nhân dân

Thứ Sáu, 10 tháng 9, 2010

Đặc sản vùng núi Tam Đảo

Rượu Chít Tam Đảo

Vườn Quốc gia Tam Đảo chập trùng núi cao với trăm suối ngàn khe cùng bát ngát những cánh rừng hỗn giao xen kẽ các vạt rừng nguyên chủng. Rừng chít cũng là đặc điểm rất riêng của vùng núi đồi Tam Đảo.

Rừng cỏ lau thường mọc trên đồi cao còn rừng cỏ chít mọc ven các khe suối và tạo thành các cánh rừng phủ kín những bãi bồi. Cây chít cho lá gói bánh cho hoa râm chổi và còn cho một món ăn đặc sản quý giá. Đó là con sâu chít, một vị thuốc bổ tráng dương, một món ăn quý hiếm thường được ví vơi `Đông trùng hạ thảo" trong thuốc bắc của Trung Quốc.

Bà con các dân tộc ở miền Tây Bắc như Dao, Nùng, Tày, Thái, Giáy… cho biết mùa khai thác sâu chít kéo dài tháng 4 đến tháng 7 dương lịch, đấy là khoảng thời gian ấu trùng sâu chít ăn đọt non cây chít. Lá chít rừng được bà con hái về gói bánh đồng thời bắt sâu chít về ngâm rượu chít. Trong bụi chít, tìm ngọn cây nào bị héo úa là bóc ra sẽ bắt được con sâu đang nằm gọn giữa thân cây. Con sâu chít màu trắng ngà chỉ dài chừng hai đốt tay giống như con tằm nhỏ. Mỗi buổi luồn rừng dù tích cực cũng chỉ bắt được vài chục con/người.

Rượu Chít này còn có tên gọi khác là Bạch trùng thảo, Đông trùng hạ thảo. Con sâu chít đem về có thể thả ngay vào chai với số lượng không hạn chế, đổ đầy rượu ngâm chìm rồi đặt vào góc tủ. Khoảng một tháng sau sẽ trở thành rượu bổ với màu trông hơi trắng ngà. Rượu này rất phù hợp với những người đàn ông bị " bất lực.

Những ai cẩn thận và cầu kỳ hơn thì thả sâu chít còn tươi vào nước muối pha loãng, rửa sạch vớt ra cho ráo nước. Dùng gạo nếp thơm cho vào chảo rang vàng rồi rắc lần lượt sâu chít vào tiếp tục đảo cùng gạo nếp đến khi các con sâu chít đều cùng chín vàng như gạo rang thì lấy ra cho vào ngâm rượu hoặc để dành dùng dần. Rượu này có màu vàng bắt mắt và rất thơm ngon.

Con sâu chít ở Tam Đảo vừa là vị thuốc vừa là thực phẩm quý hiếm và rất bổ dường đối với cả những người mới ốm dậy. Trẻ nhỏ và người già suy dinh đường nếu thường xuyên được bồi dưỡng bằng sâu chít hấp cách thủy cùng lòng đỏ trứng gà sẽ rất nhanh lại sức.

Các cụ già Ở đây còn kể lại rằng: Từ thời xưa các quan lại thường khuyến khích dân sở tại vào rừng bất sâu chít về nộp cho Viện Thái Y của triều đình, mỗi lạng sâu chít được thưởng gần 1 lạng bạc, vừa có thuốc quý vừa góp phần bảo vệ rừng xanh.
 
Thịt tái bò kiến đốt


Có thể khẳng định Thịt bò tái kiến đốt là món ăn độc đáo và đặc sắc nhất của vùng núi phía bắc. Hương vị, cách chế biến và thưởng thức món ăn này đều mang một phong cách rất riêng, tất cả đều xuất phát từ phong tục, văn hóa ẩm thực riêng của con người nơi đây.

Với cái tên nghe đã khiến thực khách phải tò mò muốn thưởng thức. Khi ăn rồi thì sẽ nhớ mãi và đặc biệt ấn tượng với với cách chế biến của món ăn này.

Thịt bò hoặc bê vừa mới mổ xong người ta cắt mỗi miếng từ 1-2kg, sau đó chọn những ổ kiến thật to ở trên cây (kiến ở dưới đất sẽ không đảm bảo vệ sinh) rồi để những miếng thịt vào cạnh tổ kiến, chọc cho lũ kiến bung ra, khi đó tất cả lũ kiến hung dữ sẽ bâu vào miếng thịt và cong đuôi đốt chán chê, thậm chí người ta có thể mang mỗi miếng thịt để vào một tổ kiến khác nhau như vậy khi ăn sẽ có được nhiều hương vị: kiến vống đỏ có mùi thơm chua, kiến vống đen có mùi thơm hắc, kiến bồ nọt có vị cay ngọt, kiến ngạt có mùi thơm...

Tiếp theo, miếng thịt bò được mang xuống rửa sạch bằng nước muối nhạt, để ráo nước, đem nướng chín tái trên bếp than hồng rồi mang ra thái miếng mỏng cho lên đĩa. Nhưng không chỉ có thế, các nguyên liệu ăn kèm và cách ăn cũng rất công phu, ngoài các loại rau sống ăn kèm thì không thể thiếu được chuối xanh và rau ngổ. Chuối xanh rửa sạch, để cả vỏ và thái lát cho vào bát nước cùng với một chút nước cốt chanh.

Cuối cùng là nước chấm. Người dân ở đây dùng một loại tương làm từ ngô và đậu, pha thêm gừng băm nhỏ và một chút đường. Khi ăn dùng tay đặt miếng thịt bò trên rau sống, tiếp theo là một lát chuối nhỏ và một chiếc rau ngổ đặt lên trên sau đó cuốn chúng lại nhúng vào bát nước chấm và thưởng thức.
Khi ăn hương vị của mỗi miếng thịt cũng khác nhau vì mỗi loài kiến đốt cho một hương vị riêng biệt. Đó quả là hương vị mà khi ăn xong sẽ còn nhớ mãi về vùng đất này.

Ăn thịt bò tái kiến đốt không chỉ tốt cho tiêu hóa mà nó còn là vị thuốc phòng và chữa bệnh thần kinh hoặc thấp khớp. Theo Đông Y thì nọc kiến rừng cũng là một loại thuốc quý.

Theo Food Development Lab, Văn hóa nghệ thuật ăn uống

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2010

Những con đèo tuyệt đẹp ở phía Bắc

Bài sơ lượt về những con đèo dài, hiểm trở và hùng vĩ vào bậc nhất ở miền núi phía Bắc Việt Nam (trong đó có "Tứ đại đỉnh đèo Tây bắc"), điểm hẹn lý thú của những 'phượt thủ' ưa mạo hiểm.

Một trong những cái thú của "cánh phượt" là được thoả mình trong đêm trăng trên những con đèo nghiêng ngả hay ngồi quây quần bên nhau trên đỉnh đèo, trong màn sương mờ ảo cùng nhâm nhi tách cà phê nóng.

Những cái thú mà ít người nghĩ tới khi đi bằng ô tô, vì những con đèo khúc khuỷu với những hiểm hoạ giao thông khôn lường. Phượt, xuất phát điểm từ cái thú thích đi “lượt phượt”, cái thú được chạy xe từ nơi này sang nơi khác, rong ruổi trên những ngả đường của Tổ quốc...

Thay vì được ăn ngon trong nhà hàng, ngủ ấm trong những khách sạn sang trọng với những lịch trình được lên từ trước, phượt để được tự do tung hoành. Tấm bản đồ và chiếc balô trên con ngựa sắt, cùng lũ bạn giang hồ chạy khắp những vùng quê xa xôi hẻo lánh nhất, tự mình khám phá và tự mình tìm ra những điều kì thú của cuộc sống xung quanh. Phượt không khác một ta-balo với đủ lòng tin, dũng cảm đương đầu với thử thách, nắm rõ sự căn bản của dịch chuyển, ưa thích sự mạo hiểm, phiêu và đam mê xê dịch. Hãy cùng chúng tôi điểm tên những con đèo được yêu thích nhất.

Đèo Mã Pí Lèng – Hà Giang

Mã Pì Lèng có nghĩa là Sống mũi ngựa, nối Mèo Vạc với Đồng Văn, vốn là hai xã xa xôi nhất của tỉnh Hà Giang.
Đèo được xây dựng từ những năm 60 của thế kỷ XX do công nhân chủ yếu là người dân tộc H’ Mông làm. Ban đầu chỉ là những con đường nhỏ cheo leo dành cho xe thồ và người đi bộ. Để đục đá mở đường, người ta phải treo mình trên dây, giữa lưng chừng những đá tai mèo mà thi công trong suốt 11 tháng.
Đèo dài khoảng 20km, chênh vênh giữa những lớp đá, lớp núi lô xô trùng trùng điệp điệp.

Những ngọn núi màu xám chì, hùng vĩ nối nhau đến tận chân trời. Xa xa là dòng sông Nho Quế dịu dàng vắt mình như một tấm khăn choàng mỏng manh. Đường xuống sông chạy gần như song song với với dòng sông cho đến khi gặp nhau ở bờ sông, màu đất đỏ quyện lấy bánh xe. Một vài căn lều tuềnh toàng của giới đãi vàng nằm khuất sau mặt kia của dãy núi. Đứng từ mặt bên này thấy toàn con đường dài phía bên như một con rắn trườn lượn mình vắt từ ngọn núi này sang ngọn núi khác.
Lần đầu tiên bước chân lên đèo, chúng tôi phải mất gần 2 tiếng đồng hồ mới đi hết vì cảnh thiên nhiên quá đẹp đẽ và hùng vĩ khiến cho bước chân cứ đi được một đoạn lại phải dừng để chụp ảnh.
Your Ad Here
Con đường đẹp vắng người, chỉ có mấy cậu bé dân tộc đang ngồi chơi vắt vẻo trên thành, nhịp chân đu đưa bị chúng tôi dụ dỗ bằng kẹo, nở nụ cười tươi trong những khuôn hình. Một cô bé đang gùi ngô về bản, tay vẫn đan sợi đều đặn, chân bước nhịp nhàng.

Vùng núi đá không trồng được cây cối hay rau màu. Người H’Mông hàng ngày phải gùi những gùi đất từ rất xa mang về nhét vào từng hốc đá, dùng đá chèn lại để giữ cho nước mưa không trôi mất đất, rồi bỏ hạt ngô giống vào. Những thân cây ngô xanh mọc lên vươn mình trong những lớp đá xám như cuộc sống vẫn trỗi dậy nơi mảnh đất cằn này mỗi ngày. Bây giờ thì tôi hiểu vì sao người Lô Lô, H’Mông hay Dao đều quàng trên mình những tấm khăn sặc sỡ, những chiếc váy đủ màu duyên dáng. Bóng áo xanh áo hồng của họ nổi bật trên những vực đá tai mèo xám. Bước chân thoăn thoắt trên khắp vùng rẻo cao. Một tấm bia lớn được dựng nơi đỉnh đèo khắc ghi những hi sinh thầm lặng của những người đã làm nên con đường Hạnh Phúc, nơi mà người ta sống chung với đá, lớn lên cùng đá và chết cũng vùi mình trong đá.

Đèo Mã Phục – Cao Bằng

Sở dĩ đèo có tên như vậy vì hai bên đường quốc lộ có hai khối đá vôi, thành dựng đứng chầu vào nhau như hai con ngựa nằm phủ phục. Đèo cao 620m, với bảy vòng dốc để đến được đỉnh. Núi vôi ở Cao Bằng không cao, cảnh sắc không hùng vĩ như các đèo khác, đường đèo cũng không quá nguy hiểm. Từ Mã Phục tỏa đến các nhánh chính của toàn tỉnh Cao Bằng. Ngay từ chân đèo rẽ trái đến với làng Tổng Cọt – nơi có cây đa già nổi tiếng và phiên chợ trâu ngày chủ nhật, ghé thăm làng cổ Nà Ngắn, đến với cửa khẩu Trà Lĩnh. Vượt qua Quảng Uyên rẽ phải là đường đến cửa khẩu quốc tế Tà Lùng. Rẽ trái ngược lên đến với Trùng Khánh, xuyên qua những rừng cây dẻ rì rào, chạy tới thác Bản Giốc kì vĩ và cuối cùng là đường tới Hạ Lang, điểm kì cùng của tỉnh.

Con đèo rộng và đẹp, vượt qua những khúc cua tay áo, những dãy núi thâm thấp nối tiếp nhau, phía bên này dốc trải dài những cánh đồng hoa tam giác mạch tim tím vào mùa xuân và những ruộng ngô xanh rì khi hè tới.

Bóng chiều đang dần buông, nắng đã ngả trên những ngọn núi nhấp nhô. Tiếng mõ trâu long cong, lốc cốc. Những đứa trẻ vừa lùa đàn trâu về vừa nô đùa ríu ran. Khung cảnh tĩnh của một vùng sơn cước, không có tiếngô tôồn ã, không tiếng còi xe, không khói bụi mịt mù. Lác đác vài ngôi nhà thổi lửa, khói bếp lơ lửng trên những mái gianh.

Những người dân tộc Tày, Nùng làm nương cuốc rẫy, vài người đã vác mai vác thuổng về nhà. Thung lũng bị tiếng xe của chúng tôi làm ồn ã. Tắt tiếng xe rồi, cả đất trời tinh không, tiếng người lao xao, tiếng lũ trẻ nô nghịch nơi bờ sông, tiếng giặt giũ, đập quần áo.
Cuộc sống bình yên và dịu dàng quá. Tôi đã mấy lần giơ máy ảnh lên định chụp rồi lại thôi. Cảnh sắc này lên ảnh chắc sẽ không đẹp, chỉ có cảm nhận bằng mắt mới thấy hết được mà thôi.

Chúng tôi đi chầm chậm, hưởng cái không khí mát mẻ của buổi chiều, hưởng cảnh sắc yên bình trên con đường nghiêng ngả, hưởng hương thơm của cây cỏ, sương giăng nhè nhẹ, gãi gãi vào da thịt. Còn một quãng nữa là đến Trùng khánh. Giờ này, chắc mẹ ở nhà cũng đã bắc bếp thổi cơm.
 
Đèo Ô Quy Hồ - Lào Cai

Con đèo nổi tiếng này đang mang tên Hoàng Liên Sơn, nối giữa Lào Cai và Lai Châu với chiều dài kỉ lục tới hơn 40km. Đèo còn được mọi người gọi là đèo Mây vì độ cao quanh năm mây mù che phủ, ngay cả trong những ngày hè.
Điểm khác biệt lớn nhất là nhiệt độ giữa hai vùng, trong khi bên phía Lai Châu thời tiết mát mẻ, khô hanh thì vừa chuyển sang phía bên kia sườn Lào Cai sẽ nhận được ngay những cơn gió lạnh với cái rét cắt da cắt thịt.

Đèo Ô Quy Hồ chạy nhũng nhẵng quanh dãy Hoàng Liên, nơi có đỉnh cao nhất Đông Dương Fanxiphang. Con đèo trước kia khi chưa làm đầy hiểm trở, ít người dám qua lại vì đường quá dài lại mang trong mình nhiều câu chuyện truyền miệng khiến người đi qua rùng mình.

Nổi bật nhất là chuyện về thần hổ, những con hổ già tinh đời, thường rình rập đâu đó ở trên đèo để bắt người. Đứng từ ngay cua ngoặt đầu tiên lên đèo, thấy được toàn bộ chiều dài uốn lượn đến tận chân trời. Đường xuống chân đèo về tới Sapa vẫn chưa được làm xong.

Con đường đi qua Công viên Hàm Rồng, Thác Bạc, Trạm Tôn, đều là những điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh nên ngoài những chiếc xe tải cồng kềnh còn có những chiếc xe du lịch chở khách lên tham quan.

Đường nhỏ, bị cày xới, góc cua hẹp khiến người đi xe máy khó khăn khi đi qua. Nếu đi đằng sau thì thế nào cũng nhận được toàn bộ cát bụi từ xeô tôtrước, còn vượt qua là cả một vấn đề lớn. Mất mười mấy cây số đường bụi bẩn như thế mới chạy lên đến đường chính của đèo.

Cánh chạy xe máy lần nào lên cũng ghé lại đỉnh đèo ăn chút gì đó lót dạ. Đa phần là đồ nướng thơm phức với hạt dẻ, thịt xiên, trứng nướng hay cơm lam chấm muối vừng. Xuýt xoa đôi bàn tay bên bếp lửa hồng, nụ cười bạn bè làm cái lạnh tan biến. Một phần ba đoạn đường đã hoàn thành, còn hai phần ba đầy ngạc nhiên đang chờ phía trước. Bất chợt cơn gió đem mây mù toả khắp vùng thung lũng khiến con đường ẩn hiện.

Đèo hôm nay đã được xây dựng đẹp đẽ, nườm nượp xe khách qua lại. Đa phần là các xe đi từ Hà Nội đến phía trên của Lai Châu đều chọn cách chạy vòng qua đường này. Đường tốt rồi, đi lại thuận tiện hơn và kinh tế cũng nhờ đó mà phát triển hơn, đưa cái chữ, cái điện về với bà con các bản xa xôi nhất nơi địa đầu Tổ quốc thân yêu.

Đèo Pha Đin – Lai Châu

Phạ Đin nghĩa là Trời và Đất với đỉnh cao nhất hơn 1600m. Theo truyền thuyết kể lại do khi hai bên vùng núi tranh chấp, ngựa của Lai Châu và Sơn La cùng xuất phát, ngựa chạy đến đâu, phần đất thuộc về địa phận tỉnh đó cho đến khi gặp nhau. Kết quả là ngựa Lai Châu chạy nhanh hơn nên phần đất thuộc về Lai Châu rộng hơn.

Lần nào đi qua Pha Đin tôi cũng ngại vì đường làm lâu nay vẫn chưa xong, lúc nắng ráo thì bụi vô cùng, không nhìn rõ đường nữa, còn chẳng may có mưa thì khổ trăm bề, nhất là những đoạn đang thi công dở dang. Chỉ muốn đường làm nhanh xong để Điện Biên Phủ gần hơn, để thi thoảng còn chạy về vùng đất kháng chiến này ngắm hoa ban hoa mận mỗi dịp xuân về.

Cánh nhiếp ảnh mê nụ cười của cô gái Thái e ấp sau chiếc quạt, mê điệu múa sạp với ché rượu cần tưng bừng đêm hội, ngắm hoa ban nở rực hai bên đường. Chẳng thế mà mỗi dịp sang xuân, lũ lượt không biết bao người kéo nhau về đây, ngắm cảnh và thăm lại chiến trường xưa một thời oanh liệt, cho dù con đèo vẫn chưa được làm xong.

Đèo Pha Đin nổi tiếng đẹp và nguy hiểm. Con đường đèo liên tục những cua dốc dựng đứng và cua tay áo suốt 32 km chiều dài.

Từ Tuần Giáo đến Thuận Châu là đoạn đèo khó khăn nhất, đang được mở rộng và ăn sâu vào núi. Dưới chân đèo còn lác đác vài bản, lên gần đến đỉnh đèo thì hầu như không còn bản làng nào nữa. Chỉ có trời xanh thăm thẳm và núi rừng xanh thẫm hoà quyện lấy nhau. Đứng trên đỉnh đèo thấy cái nghĩa của từ Phạ Đin thật đúng, thấy đất nước mình đẹp và nên thơ quá! Có thời gian ghé lại bản ngay chân đèo, nhâm nhi tách trà đắng với quả đào non, chơi đùa với lũ trẻ trong làng để thấy được cái thú của cuộc đời tiêu dao.

Hoàn tất được con đèo quả là gian khó, đường đã bớt dốc hơn và cũng rộng hơn rất nhiều. Những ngày nắng, từ trên đèo thấy được toàn cảnh vùng đất Lai Châu rộng lớn, mênh mông những rặng núi nối tiếp. Vào mùa mưa, con đường trở nên cực kỳ nguy hiểm với những cái bẫy chết người trên khắp đèo. Tai nạn lật xe xảy ra thường xuyên trên đoạn đường này. Nhưng cho dù đã có sân bay Mường Thanh nối liền cả nước với Điện Biên Phủ, người ta vẫn muốn một lần được chinh phục Phạ Đin để biết về thêm về điểm gặp gỡ của Đất và Trời.

Đèo Khâu Phạ - Yên Bái

Khâu Phạ, có nghĩa là Sừng trời, là con đèo dài nhất tuyến quốc lộ 32. Điểm bắt đầu là đoạn cắt của đường 279 huyền thoại. Con đèo dài cỡ 30 km này có đến hai phần ba là đường cấp phối, gập ghềnh đá sỏi, chỉ đi qua Tú Lệ mới được làm đẹp đẽ hơn đôi chút. Vào những ngày mây mù, đèo đặc biệt nguy hiểm cho cánh lái xe vì con đèo không có rào chắn hay bất cứ biển cảnh báo nào. Đường xuống cấp nhiều vì không được sửa chữa thường xuyên, dễ dàng bị sạt lở vì nằm trong vùng đất đỏ bazan, hệ đất yếu.

Đấy là chưa kể những nguy hiểm rình rập thường xuyên với những tảng đá từ trên núi cao có thể rơi xuống bất cứ lúc nào. Ít có xe tải lớn qua lại trên con đường này vì độ dốc của đèo khiến cho quãng thời gian đi lại trở nên quá dài.
Từ trên đỉnh của đèo Khâu Phạ nhìn xuống thung lũng Tú Lệ, tôi không khỏi xuýt xoa trước vẻ đẹp hiếm có này. Cả một vùng thung lũng tầng tầng những ruộng bậc thang nối nhau thành hình một lòng chảo khổng lồ. Con đường lên bản làng người Mông vắt một vệt đi thẳng lên tận trời. Người dân tộc ở đây làm nhà rất cao, tách biệt hẳn với mặt đất và các dân tộc khác.
 
Nhấm nháp một táchcà phêthơm trước khi đổ đèo xuống xa kia là cái thú đầy thi vị. Chỉ cần một ít củi, ít cồn khô và cái xoong nhỏ vẫn mang theo, chúng tôi đã chia nhau táchcà phêbốc khói. Sương giăng khắp mặt đất và trên những mí mắt. Trời rất nhanh bắt đầu chuyển lạnh với không khí đêm đặc trưng miền núi. Giữa đất trời này, giữa mênh mông này, giữa bốn bề này, được cùng nhau nhâm nhi vị đắng ngọt nơi cuống lưỡi cùng nhau. Để rồi lát kia, đường cứ trôi qua những thung lúa ngàn ngạt như thế cho đến tận chân đèo.

Khâu Phạ nằm tiếp giáp tỉnh Phú Thọ và Tây Yên Bái, đường đi qua nhiều địa danh nổi tiếng như La Pán Tẩn, Mù Căng Chải, Tú Lệ, Tà Sì Láng, những cung đường hấp dẫn với cánh du lịch bụi. Trước Khâu Phạ có đèo Chấu với nhiều cua tay áo nguy hiểm.
Độ cao của đèo quãng chừng 1500m so với mực nước biển. Vào mùa lúa chín tầm tháng 9 tháng 10, hãy đi qua Khâu Phạ để thưởng thức vẻ đẹp tuyệt vời của lúa trên những ruộng bậc thang nơi đây, cảnh đẹp chỉ có duy nhất trên vùng đất Yên Bái này.

Đèo Pha Long – Lào Cai

Con đèo vắt qua những bóng núi mờ mịt này không có tên trên bản đồ. Đèo được gọi như vậy có lẽ vì có đỉnh chạy qua chợ phiên Pha Long, một xã nhỏ thuộc địa phận Mường Khương – Lào Cai. Để đến với đèo, người ta phải đi xuyên qua một con đường đất hiểm trở từ Cán Cấu sang, con đường này cũng không có trên bản đồ.
Ngược dòng sông Chảy đi lên, đường cheo leo vắt vẻo với đá hộc ngả nghiêng. Mép đường cũng là mép vực, không rào chắn, không biển báo. chỉ thi thoảng bắt gặp cột mốc ghi : Khu vực biên giới. Lác đác vài ngôi nhà dân.

Đi trên con đèo này cố gắng tránh trời khuya và chuẩn bị thêm xăng dọc đường. Kèm theo chắc chắn là khoản giấy tùy thân và xe cộ thật đầy đủ vì vùng biên giới nhạy cảm. Đợt chúng tôi đi nhằm tháng 11 khi tiết trời đã khô ráo. Con đường gập ghềnh khiến kẻ ngồi trước mỏi chân vì đạp phanh, mỏi tay vì cầm lái, còn kẻ phía sau chân nhấp nha nhấp nhổm. Liên tiếp những ổ voi bùn đọng khiến đoàn xe sa lầy, hò dô ta mà vượt qua khi trời đã tối. Bước đến chân đèo Pha Long thì đêm đã khuya. Gần mười chiếc xe nối đuôi nhau như một con rắn dài khổng lồ quét ánh sáng chiếu rọi một vùng núi rừng.
Cảm giác vừa thích thú vừa không sợ chút nào vì đi giữa bạn bè tin cậy. May mắn đường đèo đã được rải đá giăm. Xe chúng tôi đi đầu, vừa đi vừa hát váng cả núi rừng. Qua mỗi đoạn ngoặt sang phía bên kia đồi lại trông thấy cả cái đuôi dài thòng đằng sau. Con đèo gần 20 cây số được ngốn dần. Gió núi vu vu bên tai, không khí lạnh ùa về. Bóng đêm đặc quánh ùa về bao bọc khắp thung lũng. Gần chín giờ đêm, chúng tôi mới về đến Mường Khương.
Dòng sông Chảy cũng là biên giới tự nhiên giữa hai nước Việt – Trung. Đứng từ bên con đường này nhìn sang thấy toàn cảnh nước bạn với rừng núi điệp trùng và một con đường zíc zắc thấp hơn phía xa.

Đèo Xá Tổng – Lai Châu và đèo Lũng Lô – Yên Bái – những con đèo bị bỏ quên

Đèo Xá Tổng nằm trong vị trí đầy hiểm trở từ Tuần Giáo ngược lên Lai Châu. Con đèo dài 25km với nhiều đoạn không có cọc tiêu, không gương cầu, đường xấu. Đường đi trong khung cảnh hoang vắng vì xung quanh đèo không có nhà dân, đoạn đèo đã bị bỏ hoang từ lâu, cũng không cóô tôđi qua vì nguy hiểm.

Đèo không dành cho những người yếu bóng vía khi một bên là vực thẳm sâu hun hút, một bên là vách đá dựng đứng, người lái xe phải căng mắt và vững tay để đi qua những con dốc dài mà không bị trượt xe xuống vực. Con đường căng thẳng khi trời đã ngả chiều mà điểm đến vẫn mãi chưa thấy đâu.

Ngày nay ít người chạy xe qua con đèo này vì độ nguy hiểm của nó rình rập thường xuyên người đi lại. Cánh du lịch bụi thi thoảng cũng có ghé thăm con đèo, hì hục vượt hết con dốc nọ đến con dốc kia, đường cua này đến ngã rẽ tới. Không một bóng người, khung cảnh hoang vắng tiêu điều. Giao thông không phát triển, đường đi lại khó khăn, kéo theo những vất vả cuộc sống của người dân khiến nhiều hộ gia đình phải chuyển về những nơi ở mới gần với đường hơn.

Đèo Lũng Lô mạn phía Yên Bái tiếp giáp Sơn La cũng trong cảnh tương tự như vậy. Con đèo dài 15 km này nằm trên quốc lộ 37, trong thời kì chống Pháp là một trong những con đường tiếp vận vũ khí đạn dược và lương thực cho chiến dịch Điện Biên.

Kể từ đó cho đến nay, con đường dần bị rơi vào quên lãng, nhất là khi đèo Khế nối Yên Bái với Sơn La được mở. Đèo bị sạt lở nghiêm trọng mất hẳn 4/5 tầng đường không khôi phục được. Đường giao thông tại tỉnh Yên Bái là nơi hứng chịu nhiều trận sạt lở nhất cả nuớc do tầng đất quá mềm. Tôi đi qua con đèo này khi quá trưa. Tranh thủ tạt qua bản gần đó xin bữa cơm đạm bạc, hoà chung cuộc sống với những người dân quanh đây. Con đèo bị bỏ quên cũng khiến cuộc sống của người dân nhiều vất vả vì đường giao thông khó khăn. Rất ít người qua lại đường này, có chăng chỉ là dân các bản vùng trong.
Vài tháng trở lại đây, đèo đang được khôi phục với một con đường men theo những tầng đường đã mất. Vượt đèo Lũng Lô để xuyên sâu hơn vào vùng đất Yên Bái đầy bí ẩn và hấp dẫn này.
 
Du lịch, GO! - Theo Okiaem amthuc365.vn

Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2010

Phượt lên biển trên... núi

Đến những nơi không ai đến, núi cao, thung sâu bằng những chuyến đi “hành xác” mệt lử cả người mới thực là tận hưởng. Với chúng tôi, một đôi tháng không được đi “hành xác” một lần sẽ thấy trong người bứt rứt lắm. Chuyến đi về hồ Ba Bể thuộc tỉnh Bắc Kạn, cách Hà Nội chừng 300 cây số vừa thoả mãn thú “hành xác” ấy, vừa đủ xa để thoả nghiền... bệnh nhớ mặt đường

Kế hoạch đi Bắc Kạn của chúng tôi hoàn toàn ngẫu hứng, nhưng phương tiện được lựa chọn số 1 vẫn là xe máy. Cơ động. Tiện lợi. Có thể dừng lại bất cứ lúc nào để chụp ảnh hay chỉ đơn giản là ngắm một thời khắc đẹp nao lòng khó đến nhiều lần trong đời... Những chiếc ba lô được lèn tối đa cho chuyến đi bụi, được chằng buộc kỹ càng. Đối với những người ưa thích lượt phượt trên lưng xe máy, luôn có một vài thứ không thể thiếu, nhưng đối với riêng tôi, đó là bản đồ và một cái ba lô chắc chắn.

Khởi hành lúc 8g sáng, thẳng tiến Quốc lộ 3. Chạy khoảng 2 tiếng thì tới Thái Nguyên. Nghỉ chân một chút nào! Ngồi ngay giữa trung tâm thành phố uống nước mía, ngắm người qua lại nhộn nhịp trên phố. Bấm đồng hồ, chúng tôi quyết định chạy ngược lại một chút vào hồ Núi Cốc. Hồ vẫn thế, vẫn đẹp như chuyện tình nàng Công chàng Cốc.

Ngắm nghía chán chê, chúng tôi lại lao ra ngoài phố, ăn trưa và lên đường đi Bắc Kạn... Đến Bắc Kạn vào khoảng 4g chiều, lại dừng lại nghỉ một chút cho lại sức. Tỉnh lỵ đều có một cái vẻ nào đó giống nhau.

Những khối nhà, những con đường vuông chằn chặn, thẳng tắp, cắt ngang cắt dọc, những dải phân cách lớn với những hàng cây trồng ở giữa, đìu hiu nhưng xa lạ. Nó mang lại cảm giác cô đơn và trống trải... Những con phố xa lạ, những gương mặt xa lạ...

Chiều xuống dần, mặt trời dần dần lặn sau núi. Nhưng ánh nắng cuối ngày vẫn còn vương lại rất lâu. Dãy núi thẫm đen lẫn trong sương chiều. Hoàng hôn ở núi khác hẳn ở biển, nó không xuống một cách chậm rãi, từ tốn và yên lành mà cho dù mặt trời đã lặn từ rất lâu, thì ánh nắng vẫn cứ ở đâu đó rất lâu, rất sâu, sau những tầng mây, dãy núi, trong đáy mắt của những người đi đường...

Chúng tôi về đến ngã ba đường rẽ vào Ba Bể thì trời đã tối, mưa lắc rắc rơi... Cũng còn đến 50 cây số nữa thì mới đến nơi. Lọ mọ lần đi trong bóng tối. Đường vào Ba Bể lần này có vẻ hiền lành, không khiến ai cảm thấy lo lắng. Có người còn hát lên khe khẽ suốt đường đi...

Đi một lúc thì bắt đầu thấy trong gió có hơi nước, rồi thấy hiện lên trước mặt là cổng chính của Vườn quốc gia Ba Bể. Thu xếp được chỗ nghỉ xong xuôi thì cũng đã hơn 10g, khoác áo ra ngoài đi dạo. Đêm mịt mùng, chỉ có vài ánh đèn hắt ra yếu ớt. Lành lạnh, man mát, đêm khuya thanh vắng khiến đầu óc nhẹ bẫng…

... 8g sáng hôm sau, ánh nắng bắt đầu lọt qua khe cửa, chuông báo thức réo rầm rĩ. Từ chỗ nghỉ đi khoảng 2 cây số nữa là ra đến hồ rồi. Hồ Ba Bể rộng mênh mông, và rất sạch. Chúng tôi thuê một chiếc thuyền khá lớn với giá 300 ngàn. Anh lái thuyền là người Tày, rất hiền, nổ máy đưa chúng tôi đi thăm hồ.

Ở đây, bướm nhiều kinh khủng. Bướm trắng nho nhỏ cứ nối nhau bay thành một hàng dài quanh những ngọn núi đá nhô lên giữa hồ. Ba Bể giống như một Hạ Long hay Cát Bà thu nhỏ, có điều trên những núi đá vôi, cây cối mọc nhiều và dày, thỉnh thoảng lại xen vào một tàn lá vàng rực hay đỏ chói.

Khung cảnh đẹp theo một kiểu khác với sự hoành tráng của Hạ Long. Có những chỗ nước nông, một đàn trâu lội qua đó, thoả thuê tắm táp. Đôi lúc, gặp một chiếc thuyền độc mộc lướt đi giữa hồ, hay một chiếc thuyền nhỏ thả neo bên vách núi của ngư dân...

Thuyền cứ đi thế, cho đến khi gặp một bản người Tày sống dưới chân núi, giữa mênh mông hồ. Lại những ruộng ngô xanh ngát, những bóng cây ngả xuống ven hồ. Bình yên như một làng quê Bắc bộ ở đâu đó thật gần... Anh lái tấp thuyền vào sát bờ, cho chúng tôi leo lên đi bộ xuống một ngọn thác. Con đường nhỏ ven hồ, một bên là ruộng ngô, là mấy mái nhà của người dân tộc, cả một vòm tre mát rượi ở trên đầu, một cây đa to như ở đầu mỗi cái làng...

Về sau nói chuyện với lái thuyền, mới biết hoá ra con đường đó nối Bắc Kạn với Tuyên Quang. Người ta vẫn thường đi xe máy, xe đạp xuyên qua con đường này, chất xe lên thuyền để qua lại cho tiện. Và biết thêm rằng, nước ở hồ Ba Bể, vượt qua cái thác ở cuối hồ ấy, chính là nước chảy thẳng ra con sông Lô, sông Gâm. Giá mà có thời gian, thì đã rất muốn thử đi theo con đường mòn nhỏ đó, để đi sang một tỉnh mà con gái nổi tiếng da trắng, tóc dài...

Trên đường quay ra, anh lái tấp thuyền vào một một nơi gọi là Ao Tiên - một vùng nước nhỏ trong vắt nằm trên đỉnh núi đá vôi, là hồ chồng lên hồ. Có một đường nhỏ đi lên, lá cây ô rô to tướng mọc khắp lối đi. Ao nho nhỏ, phẳng lặng, lá rụng đầy trên mặt hồ, cây cối phía bên kia hồ nghiêng bóng trông không khác gì cảnh ở một nước châu Âu nào đó.

Không gian yên tĩnh đến độ nghe rõ tiếng lá chao nghiêng và lách cành rơi xuống nền đất ẩm. Không gian êm đềm như thể được… lên tiên! Ba Bể đẹp... vì sự nguyên bản của nó, và vì cả tình yêu mỗi người mang trong mình khi đến với vùng “biển” trên núi này nữa…

Đến Ba Bể, hãy chọn cách ở “homestay” trong nhà người dân tộc Tày ở bản Pắc Ngòi phía khởi nguồn của hồ Ba Bể với giá rất mềm: 20 - 50 ngàn đồng/người. Hãy mượn căn bếp và tự mình nấu một bữa ăn trong nhà của người Tày.

Thuê một chiếc thuyền đi thăm ba hồ lớn thông nhau, thăm đảo Bà Goá, thác nước Đầu Đẳng, hay Ao Tiên để được đắm mình trong một không gian tĩnh lặng đặc biệt. Đi trekking trong Vườn quốc gia Ba Bể.

Theo Blogkhampha

Thứ Ba, 31 tháng 8, 2010

Lên núi cùng xe máy

“Tạm biệt phố, chúng tôi lên rừng” bằng xe máy là một trong những cách thức lên núi điển hình nhất, dễ kết hợp với các loại hình khác của du lịch khám phá và hành xác như offroad hay trekking. Một số kinh nghiệm lên núi bằng xe máy để chuyến đi của bạn được an toàn và thành công.

* “Chiến mã” (xe máy) phải thật “ngon”, bảo đảm phanh, lốp, nhông, xích an toàn cho di chuyển. Một nhóm đi cần có một bộ đồ nghề sửa xe tối thiểu phòng trường hợp bất trắc trên đường (Theo tôi thì không nên đi xe quá hào nhoáng, xế thường thôi nhưng bắt buộc máy móc, vỏ, thắng... nêu trên phải tốt, kiểm tra trước)

* Lịch trình: nên có một lịch trình cơ bản cho nhóm đi và phổ biến rõ ràng với các thành viên về điểm đến, kế hoạch di chuyển, khám phá.

Cần thiết phải có bản đồ chi tiết và có cách thức liên lạc để kết nối thành viên trong nhóm (điện thoại, bộ đàm, lời hẹn...).

* Thành viên: nhóm đi phù hợp nên có 5-7 xe máy (chừng 10 người) để thuận lợi trong quá trình di chuyển và dễ quản lý, hỗ trợ lẫn nhau.

* Đồ ăn dự phòng: nước uống và đồ ăn nhanh (kẹo, sôcôla, bánh năng lượng, đồ hộp, bánh mì, xúc xích) là cần thiết nếu bạn đi đến những vùng đất hẻo lánh và xa xôi cách trở.

Cà phê và pha cà phê trên đường thiên lý là một thú vui vô cùng tao nhã và lãng mạn đối với nhiều bạn “phượt”.
Đừng quên chuẩn bị đồ nghề (cồn, ấm đun, cà phê hòa tan, ly giấy, bật lửa và âm nhạc bằng điện thoại hoặc iPod) cho vụ cà phê nhé!

* Và chính bạn: quan trọng nhất chính là bạn. Bạn phải có đủ sức khỏe để di chuyển liên tục, thậm chí với cường độ khá cao trong ngày.

Quan trọng hơn là bạn phải thấy yêu thương và hạnh phúc với cung đường mình đã qua hay sẽ tới; thích thú với những gì được nhìn ngắm; biết cảm nhận và chia sẻ dù đôi khi chỉ là những điều vô cùng giản dị: một khúc cua lộng gió, một con đèo bồng bềnh trong mây, những thửa ruộng bậc thang loáng nước, con đường mòn âm u xuyên rừng, những đứa trẻ lấm lem, những người phụ nữ nhọc nhằn trong cuộc mưu sinh với nụ cười hồn nhiên trong trẻo...

BĂNG GIANG
Tuoitre online