Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 11 tháng 9, 2010

Khám phá Nghĩa Đô - Lào Cai

Nằm trong lịch trình của du khách khi đến với Bảo Yên, Nghĩa Đô là vùng đất có nhiều lễ hội truyền thống, như hội chơi xuân, ném còn, hội xuống đồng...

Trong ngày lễ, phụ nữ mặc những bộ váy áo truyền thống, cùng nhau say s­ưa với những bài ca, điệu múa ca ngợi vẻ đẹp quê h­ương, ôn lại những làn điệu hát truyền thống của dân tộc.

Nghĩa Đô là một trong những xã khó khăn, cách trung tâm huyện Bảo Yên gần 30km. Nơi đây ẩn chứa dấu ấn lịch sử, tinh thần đoàn kết của đồng bào các dân tộc trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Đây cũng là vùng đất có nền văn hoá phong phú, trong đó, dân tộc Tày có lịch sử cư­ trú lâu đời, tạo nên những nét văn hoá, phong tục tập quán, tín ngưỡng đặc sắc và được lưu giữ cho đến ngày nay.

Nét văn hóa, sự thanh bình của làng quê với rừng cọ, đồi chè, những nếp nhà sàn, nghệ thuật dệt thổ cẩm của người Tày Nghĩa Đô đang làm say lòng biết bao du khách.

Đến đây, du khách có thể ở nhà sàn và tìm hiểu, khám phá những nét văn hoá đặc sắc của cộng đồng dân cư sinh sống trong vùng “lòng chảo” Nghĩa Đô. Họ đã tạo nên kho tàng văn hóa dân gian đa dạng, phong phú trong việc làm nhà, việc cưới, việc tang, hay lễ hội. Những bản, làng với những nếp nhà sàn truyền thống của ng­ười Tày đã trở thành nét văn hoá độc đáo vùng đất này.

Cấu trúc bên trong của nhà sàn đồng bào Tày nơi đây hết sức hợp lý, thuận tiện cho việc sinh hoạt của cả gia đình, từ gian ngủ, gian thờ tổ tiên, gian dành cho khách, gian bếp. Đồng bào Nghĩa Đô còn có nét tín ngưỡng độc đáo là sau khi thu hoạch xong mùa màng phải lựa chọn, giữ lại những bông lúa chắc hạt, không có sâu bệnh hại nhằm giữ hồn lúa để vụ tới cho mùa bội thu. Người Tày Nghĩa Đô vẫn giữ đ­ược những ngành nghề truyền thống nh­ư đan lát, dệt mành cọ, dệt thổ cẩm. Theo phong tục của ng­ười Tày, con gái trước khi về nhà chồng phải chuẩn bị chăn, gối để mang theo, nên ngay khi lớn lên, các em gái đều đư­ợc những ng­ười lớn tuổi truyền dạy nghề dệt, từ những đôi bàn tay khéo léo, các em đã làm nên những chiếc chăn, chiếc gối độc đáo. Sau những ngày mùa bận rộn, trong ngôi nhà sàn truyền thống, hình ảnh những cô gái Tày bên khung cửi quay tơ, dệt thổ cẩm đã để lại nhiều ấn tư­ợng đối với du khách khi đến Nghĩa Đô.

Đến đây, du khách còn có dịp hòa mình vào không khí của phiên chợ quê, tham quan cảnh người dân trao đổi hàng hóa nông sản, dụng cụ sản xuất do mình làm ra và mua sắm các loại hàng thổ cẩm, váy áo truyền thống của đồng bào làm quà cho bạn bè. Ngoài ra, nơi đây vẫn còn lưu giữ và bảo tồn làn điệu hát then, múa đàn tính, đặc biệt có làn điệu hát với những cốt truyện cụ thể nói về tình yêu nam nữ. Ẩm thực đãi khách cũng rất đặc sắc với nhiều món lạ và ngon như: cá gói lá dong vùi tro bếp, nhộng cọ lam, thịt vịt bầu lam ống nứa, nộm rau rừng, ếch núi nướng…

Đến với vùng đất Nghĩa Đô thanh bình, nơi có đỉnh Khau Rịa, Khau Cấn vươn mình ghi dấu tích về một thuở oai hùng năm xưa; có thành Chúa Bầu, phế tích Đồn Nghĩa Đô mãi trường tồn cùng bản, làng văn hóa người Tày để khám phá, cảm nhận về mảnh đất.

Hấp dẫn canh gà dân dã Nghĩa Đô

Thịt gà vốn là một trong những món ăn quen thuộc đối với người dân và dễ chế biến thành nhiều món hợp với khẩu vị của từng gia đình và từng địa phương.
Về Nghĩa Đô - một xã của huyện Bảo Yên, quý khách sẽ được thưởng thức món ăn được người Tày chế biến hết sức dân dã. Đó là món canh thịt gà nấu kiệu. Cách chế biến món canh hấp dẫn này rất đơn giản.

Nguyên liệu và thành phần để chế biến gồm có: thịt gà, kiệu non (gồm cả lá và củ), gừng củ, mộc nhĩ tươi. Thịt gà băm vừa miếng cho vào nồi xào với gừng đã dập nhỏ cùng mắm, muối chừng 5 phút rồi cho nước vào đun 20 - 25 phút. Kiệu được làm sạch và lấy cả củ, cả lá thái dài khoảng hai đốt tay. Sau khi thịt gà chín, cho kiệu vào nồi thịt gà cùng với mộc nhĩ tươi đã rửa sạch. Đậy vung chừng 5 phút sau có thể múc canh ra bát và thưởng thức. Khi ngồi vào mâm cơm với bát canh gà nấu kiệu, sẽ thấy canh có nhiều màu khác nhau: màu trắng vàng của thịt gà, màu trắng của củ kiệu, màu xanh của lá kiệu, màu tím của mộc nhĩ, lớt phớt màu vàng của nghệ, của gừng và mỡ gà. Còn nước canh thì không đục mà trong vắt cùng với vị ngọt của thịt gà hoà lẫn vị thơm của kiệu, vị cay nhẹ của gừng và thơm của mộc nhĩ.

Canh gà nấu kiệu đối với người vùng cao, đặc biệt là người Tày ở Nghĩa Đô là món ăn đặc biệt để tiếp đãi khách quý hay người đi xa về. Món canh gà này còn là bài thuốc rất tốt cho những người mới ốm dậy khi ăn không thấy ngon miệng. Canh gà nấu kiệu vừa là một món ăn bình dị quen thuộc đối với người Tày Nghĩa Đô, vừa là món ăn độc đáo mang bản sắc rất riêng của địa phương.

Về Nghĩa Đô ăn cá suối, rau rừng

Trong vốn văn hóa lâu đời của người Tày Nghĩa Đô (Bảo Yên), thì văn hóa ẩm thực vốn là một ấn tượng sâu đậm trong lòng du khách mỗi khi đến thăm.

Về Nghĩa Đô, du khách sẽ được thưởng thức các món ăn chế biến từ những sản vật có sẵn dưới suối, trên rừng, tức là những nguyên liệu mà người Tày tự tay kiếm được, tự tay chế biến và thực tâm đãi khách. Món canh cá suối nấu rau vón vén từ lâu đã trở thành món ngon của Nghĩa Đô.

Nghĩa Đô có rất nhiều suối, nên việc đánh bắt cá suối rất thuận lợi và cá suối Nghĩa Đô cũng trở thành đặc sản. Nguyên liệu để chế biến món canh này chính là loại cá nhỏ, đuôi màu hồng, mình tròn được bắt ở suối Nghĩa Đô. Cùng với cá là một loại rau hái trên rừng mà người Tày nơi đây thường hay gọi một cách dân dã và đơn giản là rau "vón vén". Loại rau này thường mọc ở trên núi cao, sườn đồi hay ven suối. Cộng thêm với các gia vị như gừng tươi và ớt quả.

Việc chế biến món canh này hết sức đơn giản, nhưng muốn canh ngon cần phải tuân thủ theo công thức chế biến. Cá suối nhỏ được rửa sạch, bóp bỏ phần ruột, cho vào nồi đun nhỏ lửa, cho mắm, muối vừa đủ và đun nhỏ lửa khoảng 20 - 25 phút cho cá chín mềm và tạo nước canh có vị ngọt từ cá. Sau khi cá đã mềm nhừ, rau vón vén rửa sạch, vò rồi cho vào nồi nước canh cá đang đun sôi. Đậy vung khoảng 10 - 15 phút là canh có thể dùng được. Trong quá trình đun, người ta không quên cho vào nồi vài lát gừng đã đập dập.

Canh cá suối nấu lá vón vén là món canh được người Tày dùng với cơm hàng ngày hay khi tiếp đãi khách ở xa về. Khi thưởng thức canh, người ta sẽ có nhiều cảm giác từ thị giác đến vị giác. Nhìn bát canh còn nóng hổi, sẽ toát lên nhiều màu: Màu trắng nhạt của cá suối, màu vàng nhạt của rau vón vén, màu trong veo của nước và màu điểm vàng của gừng. Vị của món canh này thì ăn một lần có thể nhớ mãi: Có vị bùi của cá suối, vị thanh ngọt của nước canh, vị nửa ngọt, nửa chát của lá rau, vị hơi cay của gừng. Canh cá suối nấu lá vón vén còn là một vị thuốc hữu hiệu dùng cho người ốm và dùng để giải rượu khi say.

Về Nghĩa Đô, bước chân lên "chín bậc tình yêu" của nhà sàn người Tày trong sự mến khách và âm vang câu hát then, được thưởng thức món canh được chế biến từ cá suối, rau rừng, du khách sẽ cảm nhận được tấm lòng thơm thảo của người Tày nơi đây, thấy được bản sắc, nét văn hóa độc đáo từ bao đời trong món ăn dân dã mà độc đáo này.

Báo Lào Cai

Thứ Sáu, 3 tháng 9, 2010

Khám phá Đầm Đa

Đến Đầm Đa, bạn sẽ lạc lối giữa núi non trùng điệp, những hang động lung linh huyền ảo cùng nhiều truyền thuyết nguyên sơ...

Sau gần 2 giờ ngồi trên xe khách, bác tài xế thả chúng tôi xuống một nơi cách danh thắng Đầm Đa (xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình) 7 km. Hỏi mãi, cũng không ai biết Đầm Đa. Hành trình tới danh thắng xứ Mường vì thế cũng khó khăn hơn. Quốc lộ 21A lưa thưa nhà dân ven đường, thi thoảng mới có vài chiếc xe máy, ô tô tải chạy qua chạy lại, chúng tôi chọn cuốc bộ để tiện ngắm cảnh, chụp ảnh.

Xế trưa, nắng gắt cuối hạ như thiêu đốt bước chân lữ hành. Đi mãi cũng chỉ thấy con đường dài tít tắp, khi uốn cong như dải lụa, khi cao thấp gập ghềnh. Nhưng quả là thú vị khi chúng tôi thấy hai lớp học của người Mường nằm ven đường quốc lộ, được xây dựng hoàn toàn bằng đá, với nền tường vững chắc, xòe ra như cánh chim. Hai lớp học nằm kề với nhau giữa khoảnh đất trống, yên lặng giữa bốn bề ngút ngàn cây xanh.

Cuối cùng, chúng tôi đến danh thắng Đầm Đa khi mặt trời đã lên tới đỉnh đầu. Nắng rọi vào cây rừng ánh lên sắc vàng, sắc xanh xua tan những màn sương và mây cuộn trên đỉnh núi.

Cách chúng tôi vài trăm mét là những ngọn núi cao, nối tiếp nhau trùng điệp, ngạo nghễ thách thức chinh phục.
Lạ thay, khi tiến tới gần chỉ thấy những tấm biển chỉ đường lên hang động trong lòng núi.

Nào là động Ông Hoàng Bảy, động Cô Chín, động Suối Vàng Suối Bạc, động Cung Tiên…

Mỗi hang động là một kiệt tác của thiên nhiên, đều gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu - một tín ngưỡng bản địa nguyên thủy. Động Thủy Tiên lấp lánh những nhũ đá màu nâu xám được kết tinh hàng trăm năm, động Cung Tiên gợi cảm giác phiêu lưu trên dãy bậc thang ngoằn ngoèo cách biệt hai nửa sáng - tối, mờ ảo như dương gian với địa phủ.

Nổi bật nhất là động Tam Tòa Đức Thánh Mẫu nằm đối diện với đền Trình vừa có thể bao quát toàn cảnh làng mạc Phú Lão, vừa tham quan ba tòa động lung linh những nhũ đá hình thù kỳ lạ như: Mâm xôi, ông tiên, con rùa, con voi…

Động Mẫu Long (còn gọi là động Mẫu Âu Cơ) đẹp chẳng kém, nơi chúng tôi bị lạc giữa bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ, những nhũ đá nhiều màu nhỏ từng giọt nước mát lạnh, những vòm mái tua tủa thạch nhũ mềm cong như râu rồng, tổ rồng.

Những hang động nối tiếp hết lớp này đến lớp khác để khách phải trườn mình mới vào được. Mỗi hang động là một cuộc phiêu lưu kỳ thú, không kém phần mạo hiểm.

Khi ánh tà dương dần xuống cũng là lúc chúng tôi rời Đầm Đa. Cảm giác nuối tiếc dâng trào bởi những hình ảnh luôn hiện ra trong đầu: Những động tiên hư ảo, một đàn trâu nhởn nhơ gặm cỏ bên chân ruộng lúa non, những đồi keo xanh thẳm bên hồ nước phả hơi sương màu tim tím. Một bức tranh Đầm Đa đẹp và thanh bình đến lạ.

Theo Thanhnien online

Đầm Đa là tên gọi chung quần thể các di tích lịch sử như đền Mẫu Âu Cơ, chùa Tiên… cùng rất nhiều hang động nằm trên địa phận xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.


Quần thể hang động kỳ thú nằm trong những ngọn núi liên tiếp nhau tạo cho Đầm Đa sức hút hấp dẫn. Để vào được các hang động phải leo qua những bậc thang đá tới lưng chừng núi. Cuộc hành trình khá vất vả nhưng thỉnh thoảng từ triền núi ngắm nhìn khung cảnh thiên nhiên xanh màu cây trải rộng nên thơ xa xa phía dưới, cứ như được tiếp thêm sức lực.

Hầu hết đền chùa, am thờ đều được đặt ở trong các hang động. Hình ảnh những khối thạch thũ muôn hình muôn vẻ phía sau các ban thờ làm tăng thêm vẻ linh thiêng, huyền bí. Những khối thạch nhũ, tuyệt tác của tạo hóa với vẻ đẹp diệu kỳ, gắn với câu chuyện về chiếc bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ, những quả đào tiên khổng lồ cùng những đụn vàng, đụn bạc tuôn chảy…

Xen lẫn các quãng leo núi là những đoạn đường bộ băng qua những ruộng đồng, đầm hồ hữu tình, bước chân nhẹ thênh trong tiếng chầu văng văng vẳng khắp triền núi.
Con đường đến động Tam Tòa hiểm trở hơn rất nhiều so với các hang động khác, nhưng "đến Đầm Đa mà chưa tới Tam Tòa thì coi như chỉ biết tới một nửa vẻ đẹp của quần thể danh thắng này.

Người ta ước tính ở Đầm Đa có hơn 20 động lớn nhỏ khác nhau mà đẹp nhất, lộng lẫy nhất phải kể đến các động Tam Tòa, động Thủy Tiên, động Cung Tiên, động Hoàng Mười… Mỗi động đem đến một cảm giác khác biệt.

Theo dulichvn.org.vn

Những điều cần biết khi đến thăm Đầm Đa vào dịp lễ hội:

- Lễ hội chùa Tiên - Đầm Đa thường kéo dài từ đầu tháng giêng cho tới khoảng giữa tháng ba âm lịch.
- Xung quanh khu danh thắng có nhiều nhà nghỉ bình dân.
- Giá vé tham quan các đền chùa, hang động của Đầm Đa là 10.000 đồng/người/lượt.
- Du khách có thể vừa đi bộ vừa ngắm cảnh trên con đường dẫn đến các đền chùa và hang động khác nhau, hoặc có thể tiết kiệm thời gian bằng cách đi xe ôm và xe điện.
- Có thể thưởng thức các món ăn đặc sản của Hoà Bình như cơm lam, thịt thú rừng…
- Đầm Đa nằm khá gần khu danh thắng chùa Hương nên thuận tiện để thực hiện một chuyến đi nối liền giữa hai địa danh này.

Du lịch, GO! - Theo YuMe

Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2010

Du lịch Long An

Vị trí địa lý: phía bắc giáp tỉnh Tây Ninh và Vương quốc Campuchia trên chiều dài biên giới 137,5 km, phía nam giáp tỉnh Tiền Giang, phía tây giáp tỉnh Đồng Tháp, phía đông giáp Thành phố Hồ Chí Minh. Dù xếp vào vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng Long An là phần đất chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, nên địa hình có xu hướng thấp dần từ đông bắc xuống tây nam. Phía bắc và đông bắc tỉnh có một số gò đồi thấp; giữa tỉnh là vùng đồng bằng và phía tây nam tỉnh là vùng trũng Đồng Tháp Mười, trong đó có khu rừng tràm ngập phèn rộng 46.300 ha.

Địa hình Long An bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông và kênh rạch chằng chịt với tổng chiều dài lên tới 8.912 km, trong đó lớn nhất là sông Vàm Cỏ Đông chảy qua Long An.

Long An hấp dẫn khách du lịch chủ yếu do giá trị nhân văn của nền văn hoá Óc-Eo, một nền văn hoá đã hình thành và phát triển trên châu thổ sông Cửu Long từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 6 sau Công nguyên do tiếp nhận tinh hoa văn hoá Ấn Độ. Gần 20 di tích tiền sử và gần 100 di tích văn hoá Óc Eo đã được phát hiện với 12.000 hiện vật đã thu thập. Ngoài ra Long An có trên 40 di tích lịch sử cách mạng, công trình kiến trúc và danh lam thắng cảnh quan trọng như: cụm di tích Bình Tả (Đức Hoà), di tích lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức (thị xã Long An), di tích đồn Rạch Cát, ngôi nhà trăm cột...

Đi đâu, chơi gì?

Cần Đước

Cần Đước là huyện trọng điểm lúa gạo, giống lúa Nàng Thơm được nhiều nơi trong cả nước trồng. Nhưng thơm ngon nhất là Nàng Thơm Chợ Đào (xã Mỹ Lệ). Cơm gạo Nàng thơm ăn với cá bống kèo kho tộ là đặc sản địa phương.

Cần Đước cũng được xem là một trong nhừng cái nôi của đờn ca tài tử, hiện ở đình Vạn Phước có thờ linh vị của ông Nguyễn Quang Đại một nhạc quan triều đình nhà Nguyễn, trên đường xuôi Nam đã dừng chân tại Cần Đước chỉnh lý, sáng tác các bài bản tổ của nhạc lễ, nhạc tài tử và truyền dạy cho nhiều thế hệ học trò lưu truyền các đời sau như nhạc Giai, nhạc Láo nổi tiếng...thành ngữ phổ biến ở lục tỉnh nam kỳ "Đờn nhứt xứ, võ vô địch" là để xưng tụng người Cần Đước xưa hào hoa và nghĩa hiệp.

Ngoài ra, Cần Đước còn có các nghề thủ công như dệt chiếu ở Long Cang Long Định, chạm bạc ở Phước Vân, chạm gỗ ở Tân Lân, đóng ghe ở Long Hựu, Tân Chánh. Cho đến ngày nay những nghề thủ công trên vẫn được bảo tồn còn có bước sáng tạo, làm ra nhiều sản phẩm thủ công xuất khẩu,mới đây, một nhóm thợ đóng ghe Cần Đước được mời sang Hàn Quốc làm chuyên gia đóng tàu gỗ nhỏ.

Cần Giuộc

Nằm ở vùng hạ lưu sông Vàm Cỏ, Cần Giuộc có nhiều bãi bồi với các loại cây nước mặn như đước, tràm, sú, vẹt... Từ những sản vật trên những bãi bồi, người dân địa phương chế biến thành những món ăn dân dã mà đặc sắc, có dịp ăn một lần sẽ nhớ đời, đặc biệt nhất là mắm còng mùng năm. Mắm còng có hai loại, mắm còng sữa nguyên con và mắm còng mặn. Mắm còng mặn màu đen, mùi khá nồng dùng để làm nước chấm ăn với các món cuốn. Mắm còng mặn không có màu sắc bắt mắt bằng mắm tôm chà Gò Công nhưng vị ngon thì không hề kém cạnh.
Trong bữa tiệc của gia đình, chén mắm còng đặt cạnh dĩa bún trắng, cá lóc nướng trui và dĩa thịt ba rọi xắt mỏng thì sẽ nhanh chóng trở thành “tâm điểm” hấp dẫn. Người dân địa phương dùng mắm còng mặn kèm với nhiều món ăn khác như... thịt vịt luộc chấm mắm còng. Mắm còng sữa nguyên con được bắt đúng vào ngày mùng năm tháng năm âm lịch lại là món ăn đặc biệt, chỉ có khách quý mới được mời. Mắm còng sữa không chỉ dùng để ăn kèm với thịt luộc, chuối chát rau thơm mà còn là thức ăn tuyệt vời với... cơm nguội.

Đến Cần Giuộc, hỏi mua “đặc sản”, bạn sẽ được giới thiệu món lạp xưởng được làm bằng ruột heo tươi. Đây là một sản phẩm truyền thống của vùng đất này. Khách đến Cần Giuộc vào mùa tết thường mua rất nhiều lạp xưởng mang về làm quà cho người thân.

Lạp xưởng Cần Giuộc nổi tiếng ngon bởi vì người ta đã chọn những miếng thịt heo nạc, tươi và còn nóng ngay sau khi mổ đem xay, ướp. Nếu sành ăn, khách có thể mua được loại lạp xưởng ngon nhất- đó là loại được lấy ruột từ những con heo trên dưới 80kg, cạo mỏng như một lớp nylon để làm bao ngoài. Đặc biệt lạp xưởng ở đây được sấy chứ không phơi- người làm lạp xưởng phải canh lửa riu riu từ 10-12 tiếng để lạp xưởng khô đều và dẽ lại, nhờ vậy, lạp xưởng Cần Giuộc ngon và để được rất lâu, không bị pha mùi dầu.

Đức Hòa — Đức Huệ

- Khu di tích khảo cổ học Bình Tả , xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa , tỉnh Long An, nằm về hướng đông bắc thị xã Tân An, cách Tân An 40 Km theo lộ trình Tân An- Bến Lức- thị trấn Đức Hòa và nằm cách tỉnh lộ 824 (tình lộ 9 cũ) tám trăm mét về phía đông.

- Di tích Gò Xoài : là một di tích kiến trúc xây bằng gạch , có dạng gần vuông với mỗi cạnh dài khoảng 20 mét, nền móng của kiến trúc có cấu tạo rất chắc chắn và phức tạp , gồm nhiều loại vật liệu khác nhau như cuội basalt (badan), sỏi đỏ, cát trắng, cát hồng… Kiến trúc Gò Xoài có hố thờ hình vuông ,cạnh 2,2 mét; sâu trên 2,5 mét, ở gần đáy hố thờ đã phát hiện được tro xương và một sưu tập hiện vật quý giá gồm nhiều mảnh vàng nhỏ, mỏng khắc chạm hình những linh vật như rùa, rắn, voi, những chiếc nhẫn và mề đay nạm đá quý và một bản văn minh Sanskrit-Pail gồm 5 dòng : dòng thứ nhất ghi một đoạn Pháp Thân Kệ, dòng thứ hai ghi một đoạn Kinh Pháp Cú (cả hai đoạn minh văn trên đều thuộc về Phật Giáo), dạng mẫu tự trên minh văn này được nhận định thuộc loại mẫu tự Nam ấn ( Deccan ), thếkỷ VIII-IX Công nguyên. Qua phát hiện trên, kiến trúc Gò Xoài được nhận định là một di tích stupa của Phật Giáo, có niên đại sớm nhất ở đồng bằng sông Cửu Long.

- Di tích Gò Năm Tước : là một di tích kiến trúc xây bằng gạch, dài 17,20 mét; rộng 11,10 mét, phần trên của kiến trúc đã bị mất nhưng ở phần nền móng còn giữ được những đặc điểm của kiến trúc thuộc văn hóa Óc Eo như cấu trúc bẻ góc, các đường móng gạch rất thẳng, tam quan hình bán nguyệt hướng về phía đông là cơ sở để nhận định đây là một kiến trúc đền thờ Ấn Độ Giáo
Nhìn chung, khu di tích Bình Tả là một cụm di tích khảo cổ học quy mô lớn thuộc văn hóa Óc Eo

- Di tích Gò Đồn : là loại kiến trúc đền tháp xây bằng gạch , chiều dài đông- tây 78,5 mét; chiều ngang chỗ rộng nhất đo được 60 mét (chiều bắc- nam), toàn bộ kiến trúc trước khi khai quật đều nằm trong lòng đất , chỗ gần mặt đất nhất là 0,4 mét. Cuộc khai quật đã thu thập được nhiều hiện vật bằng đá như tượng thần Dvarapala (thần giữ đền), đầu tượng thần Ganesa (phúc thần), nhiều vật thờ như linga, yoni, mi cửa chạm trổ hoa văn hình hoa lá, máng dẫn nước thiêng (somasutra)và nhiều đồ gốm cổ

Châu Thành
Cụm vườn Thanh Long Châu Thành: Khoảng 5km (3 miles) xuôi về phía Nam thị xã Tân An là huyện Châu Thành, huyện nổi tiếng về trái thanh long và dưa hấu. Thanh long là loại trái cây đặc sản được trồng phổ biến ở vùng này, có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao. Cành Thanh long được thả leo trên cây dông uốn mình như những con rồng xanh ngậm quả chín mọng đỏ rất hấp dẫn khách tham quan và thưởng thức nét đẹp của vườn cây, vị ngọt mát của loại trái cây này...

Khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười

Ngược dòng sông Vàm Cỏ Tây, thuyền du lịch sẽ đưa du khách đến trung tâm Đồng Tháp Mười, vùng du lịch sinh thái đặc trưng của vùng đất trũng Nam Bộ, cách Tân An khoảng 50 km (31 miles) thuộc các huyện Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Thạnh Hóa và Tân Thạnh.

Đến đây du khách tận mắt nhìn thấy những cánh rừng tràm bạt ngàn, thoang thoảng hương thơm với từng đàn ong mật lượn quanh, những cánh đồng sen rộng lớn với muôn vàn đóa hoa sen khoe sắc dưới ánh nắng. Có nhiều loại động vật quí hiếm đang được bảo vệ tại vùng Đồng Tháp Mười như: Cò, Sếu đỏ, Rùa, Rắn... làm tăng vẻ đẹp vùng sinh thái. Đặc biệt khách có thể thưởng thức các món ăn Nam Bộ như canh chua bông điên điển, gỏi ngó sen, cá lóc nướng trui chấm muối ớt với vài ly rượu đế đặc trưng của đồng bằng Nam Bộ.

Vườn hoa kiểng Thanh Tâm

Vườn hoa nằm tại trung tâm thị xã Tân An, là vườn hoa cây kiểng bon sai nhiều loại, có loại trên 100 tuổi. Nhiều loại cây đạt huy chương vàng hội chợ hoa xuân các tỉnh phía Nam. Với tài nghệ của các nghệ nhân, các kỳ quan thế giới được thu nhỏ trong vườn: núi Phú Sĩ, đền Angco, Kim Tự Tháp, thành nội Huế...

Lễ Cầu Mưa

Những năm hạn hán nhân dân tại các vùng sản xuất nông nghiệp của Long An thường tổ chức cầu mưa, tế lễ trời đất, mong thần linh ban cho mưa xuống. Lễ cầu mưa có hai phần: phần lễ theo nghi thức truyền thống và phần hội là các cuộc đua ghe trên sông rạch, cũng có nơi làm lễ rước rồng. Sau khi đua ghe, dân chúng kéo về đình làng làm lễ cúng thần linh và tổ chức ăn mừng vui chơi.

Các di tích lịch sử trên đất Long An

Di tích nhà trăm cột tại Huyện Cần Đước Long An
Di tích lịch sử Chùa Tôn Thạnh — Xã Mỹ Lộc — Cần Giuộc
Chùa Phước Lâm tại Xóm chùa Tân Lân huyện Cần Đước
Di tích lịch sử Bình Thành huyện Đức Huệ
Di tích nghệ thuật đình Vĩnh Phong thị trấn Thủ Thừa
Di tích khảo cổ học Gò Ô Chùa xã hưng điền A, Vĩnh Hưng
Di tích lịch sử Ngã Tư Đức Hòa huyện Đức Hòa
Di tích lịch sử ngã tư Rạch Kiến huyện Cần Đước
Lăng Mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức cách Tx Tân An 3.5km về phía Tây
Di tích lịch sử và khu lưu niệm Nguyễn Thông huyện Châu Thành
Di tích khảo cổ học Rạch Núi huyện Cần Giuộc
Di tích Vàm Nhựt Tảo huyện Tân Trụ
Di tích lịch sử Nhà và Lò Gạch Võ Công Tồn huyện Bến Lức
Di tích khảo cỗ học Bình Tả huyện Đức Hòa.

Theo Chudu24

Thiên Sơn - Suối Ngà, cảnh đẹp Tản Viên

Theo quốc lộ 32 hoặc đường cao tốc Láng - Hoà Lạc đến thị xã Sơn Tây, rồi rẽ trái lên khu Vườn quốc gia Ba Vì, bạn sẽ tới khu du lịch sinh thái Thiên Sơn - Suối Ngà. Nơi đây đã được đầu tư thành Khu du lịch chỉ cách Hà Nội chỉ khoảng một giờ chạy xe, nơi này đã trở thành chốn nghỉ ngơi của nhiều người dân thủ đô vào cuối tuần từ nhiều năm nay.

Thiên Sơn có phong cảnh rất hữu tình nhờ có những thác nước trong vắt chảy từ trên núi Tản xuống, những khu rừng xanh biếc chạy dọc theo sườn núi ẩn hiện trong những lớp mây mù.

Vào những ngày trời quang, đứng từ thị xã Sơn Tây, người ta có thể nhìn thấy ở sườn Đông núi Ba Vì hai ngọn thác từ trời cao đổ xuống, trắng sáng như hai chiếc ngà voi, vì thế mà có cái tên suối Ngà.
Ngoài ưu thế ở khá gần trung tâm Hà Nội, Thiên Sơn-Suối Ngà còn giữ được vẻ đẹp nguyên sơ của hơn 200 ha rừng, tổ ấm của các loài động vật hoang dã: khỉ, trăn, nai, sóc, chồn, chim phượng hoàng, gà rừng, vẹt, sáo... và những cây gỗ quý: sưa, vàng tâm, de, dổi, dẻ,...

Nằm trong đường vành đai phòng hộ rừng quốc gia Ba Vì, Thiên Sơn - Suối Ngà được chia làm ba khu, mỗi khu cách nhau khoảng gần hai cây số.

Bắt đầu là Hạ Sơn có thác Tam Cấp, hồ Hạ Sơn chính là nơi gặp gỡ của hai ngọn thác. Du khách có thể ngồi ở Vọng Lâu hoặc đạp thuyền thiên nga để thưởng ngoạn cảnh hồ. Sau khi thỏa thích ngắm cảnh, tìm hiểu những loại thực vật quý hiếm của vườn quốc gia Ba Vì, du khách có thể nghỉ ngơi tại khu biệt thự trên cao hoặc thưởng thức các món ăn đặc sản của Sơn Tây như gà ri và bánh tế tại khu ẩm thực bên sườn núi.

Gà ri Sơn Tây thân nhỏ, chân ngắn, thịt dai và ngọt; luộc hay nấu cháo đều rất ngon. Bánh tế được làm bằng bột gạo, không có nhân, chỉ có bột và nấm mèo trộn với nhau. Người ta cuốn cái bánh dài khoảng 30cm trong lá chuối, túm lại ở hai đầu rồi đem luộc. Bánh có vị hơi giống bánh giò, nhưng dai và chắc hơn. Trong không khí se se lạnh vùng núi, món bánh bột ăn nóng với nước mắm ớt cũng khá hấp dẫn.

Để lên khu Trung Sơn, du khách đi theo con đường uốn lượn qua các hồ nước trong xanh. Đây là khu vui chơi dành cho mọi lứa tuổi. Từ đây, men theo con đường lát đá dưới tán lá cây rừng dày sum suê là tới thác Cổng Trời.

Cổng Trời là một trong những ngọn thác đẹp nhất trong khu vực rừng quốc gia Ba Vì, cao xấp xỉ 100m. Nước từ trên cao đổ xuống những tảng đá tung bọt trắng xóa, làm không gian tràn ngập hơi nước mát lạnh.

Thấp thoáng dưới tán cây rừng là những mái nhà, những bộ bàn ghế dành cho khách nghỉ chân. Các tiện nghi phục vụ du khách được sắp đặt khá khéo léo dưới bóng cây rừng, vừa kín đáo, vừa gần gũi với cảnh quan thiên nhiên.

Khu thứ ba thoáng đãng, cao 200m trên mực nước biển là nơi du khách có thể thưởng ngoạn ba đỉnh cao của núi Ba Vì, nên nó được gọi là Ngoạn Sơn – nghĩa là ngắm núi. Ngay trước mặt khu này là hồ nước rộng 7 ha có vai trò điều hòa khí hậu.
Ở đây có những nếp nhà sàn thơ mộng bên hồ, những cây cầu soi bóng xuống làn nước xanh trong. Du khách thư giãn bằng bơi thuyền, câu cá, đi dạo trên những con đường nhỏ bên hồ, cảnh vật thật thơ mộng.

Sau một ngày leo núi, lội suối, tắm hồ, ngắm thác, câu cá và một đêm đắm mình giữa thiên nhiên hùng vĩ, ngày hôm sau, trên đường về Hà Nội, du khách có thể dừng chân tại thị xã Sơn Tây, tiếp tục tham quan những di tích lịch sử nổi tiếng như thành cổ Sơn Tây, chùa Mía... Thành cổ Sơn Tây khá đẹp nhờ còn giữ nét xưa và được rất nhiều cây cổ thụ che phủ. Còn chùa Mía với vẻ tĩnh lặng, cổ kính cũng là một di tích mà du khách không thể bỏ qua.

Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần, Tuoitre, mangdulich

Thứ Tư, 25 tháng 8, 2010

Thiên đường ở hòn Đá Bạc, Cà Mau

Truyền thuyết dân gian kể rằng hòn Đá Bạc xưa là chốn bồng lai tiên cảnh. Chẳng biết thực hư thế nào, nhưng ngày nay hòn Đá Bạc đã được công nhận là di tích lịch sử quốc gia và trở thành một điểm đến hấp dẫn du khách ở vùng đất mũi Cà Mau, mũi đất địa đầu tổ quốc.

Hòn Đá Bạc có diện tích khoảng 6,34 ha, gồm các hòn nằm liền nhau là hòn Trọi, hòn Ông Ngộ và hòn Đá. Trên các hòn có một số đỉnh đồi cây cối chen vào các hốc đá, mọc um tùm.

Quanh hòn, hàng ngàn viên đá granit đủ mọi kích cỡ nằm chồng lên nhau với nhiều hình thù kỳ lạ như những bàn tay, bàn chân Tiên, giếng Tiên, sân Tiên.
Sau khoảng 30 phút chạy xe từ trung tâm huyện Trần Văn Thời, bạn sẽ đến xóm Kênh Hòn tận mắt chứng kiến phong cảnh nơi đây, bình dị như chính cái tên. Những ngôi nhà sàn vươn dài ra mặt sông và cảnh sinh họat đời thường bình dị: người chèo ghe, kẻ giăng lưới, làm đồng, trẻ con bơi lội, đùa giỡn…

Đứng từ chỗ mua vé vào hòn Đá Bạc (15.000 đồng/vé), Ấn tượng đầu tiên là con đường vào Hòn Đá Bạc - một cây cầu có chiều dài chừng 400 mét vượt biển, được phân rõ hai chiều cho xe vào và ra.

Hòn Đá Bạc có hai cụm đảo chính. Nhìn xa, hai cụm đảo như đôi gò bồng đảo của một thiếu nữ xuân thì. Cả hai cụm đảo đều xanh ngắt một màu cây cỏ, được bao quanh bởi những bờ đá granite đẹp tuyệt vời.
Điểm thu hút nhất của hòn Đá Bạc là một khối đá có hình bàn tay người. Sóng và gió biển đã ngàn năm cần mẫn điêu khắc cho con người một tác phẩm thật độc đáo, thú vị.

Hòn Đá Bạc nằm trong eo biển hẹp với nhiều bãi gềnh đá chìm nổi theo thủy triều nên là nơi trú ẩn của nhiều loài hải sản. Vì vậy, nhiều du khách đến hòn Đá Bạc để câu cá làm thú vui thư giãn.

Du khách dễ dàng câu được cá nâu, cá bốp, cá ngát… nhưng hấp dẫn hơn là được thưởng thức các đặc sản này. Cá bốp, cá ngát, cá nâu nấu lẩu chua bằng cơm mẻ đều ngon, thêm rau đồng cỏ nội của đất Hòn, nhất là có vị chua đượm của lá giang (một thứ dây leo trên hòn, khác lá giang trên núi) thì tuyệt vời hơn. Hay cá nâu kho trái giác - một thứ trái của dây leo nơi hoang dã, có vị chua ngọt, thì ăn cơm quên no.

Theo kinh nghiệm của những du khách đã nhiều lần đến hòn Đá Bạc và người dân địa phương thì nên đến hòn Đá Bạc vào khoảng từ tháng 9 trở đi, vào những lúc trời yên, biển lặng, nước trong nhất. Lúc đó, nước biển trong xanh, cá nâu tung tăng bơi lội, tha hồ mà câu. Còn ngư dân của kinh Hòn cũng đua nhau ra biển đánh bắt hải sản. Du khách rảo quanh Hòn để tận mắt nhìn ngư dân nơi đây bơi thuyền ra biển câu mực, cá nâu, hay lặn xuống biển để đục bắt hàu từ các hốc đá dưới nước.

Những người ăn sành điệu cho rằng không nơi nào hàu ngon bằng ở hòn Đá Bạc. Hàu nướng mỡ hành, hàu nấu cháo hay hàu tái chanh mù tạt... Hàu ở hòn Đá Bạc rất nhiều, giá cũng phải chăng. Ngư dân bán 3.000 đồng/con, còn trong nhà hàng đã chế biến bán 6.000 đồng/con. Tôm, mực, cua, cá… cũng có giá mềm. Ngư dân bán cá ngát chỉ 30.000 đồng/kg, cá chẽm 40.000 - 50.000 đồng/kg, tôm tít 130.000 đồng, cua 100.000 đồng/kg… còn nhà hàng bán lẩu cá ngát, cá chẽm 150.000 - 200.000 đồng/lẩu, kho tộ 40.000 - 60.000 đồng/tộ.

Ở đây có khách sạn 24 phòng. Phòng rộng, thoáng, trông ra biển. Giá phòng lạnh 200.000 đồng, phòng quạt 150.000 đồng. Hiện nay, nhà hàng khách sạn ở khu du lịch hòn Đá Bạc cũng vừa sửa chữa nâng cấp xong. Ông Lê Chí Công, Giám đốc Nhà hàng Khách sạn Khu du lịch hòn Đá Bạc, cho biết thêm: “Bây giờ, du khách đến hòn Đá Bạc ngày càng đông. Chúng tôi đang xây dựng lăng cá Ông và trưng bày bộ xương cá ông dài hơn 20m, nặng hơn 40 tấn, xây thêm bờ kè, bãi tắm…”.

Du khách đến đây vào dịp trời yên, biển lặng, đứng trên hòn Đá Bạc ngắm nhìn hoàng hôn hay vào dịp trăng sáng ngồi ven biển rì rào sóng vỗ thưởng thức cháo hàu hay nướng mực “nhâm nhi” cùng bằng hữu để ngắm trăng trên biển sẽ là những kỷ niệm khó quên.

Theo website 24h.com - thesaigontimes - Báo Cà Mau

Thứ Ba, 24 tháng 8, 2010

Thất sơn Châu Đốc

Châu Đốc là một thị xã trực thuộc tỉnh An Giang, nằm ở đồng bằng sông Cửu Long, sát biên giới Việt Nam với Campuchia. Châu Đốc có chiều dài lịch sử gắn liền với những câu chuyện ly kỳ về Bà Chúa Xứ Núi Sam (có Lễ hội Bà Chúa Xứ vào khoảng tháng tư âm lịch hằng năm), cũng như những sự kiện trong công cuộc gìn giữ đất nước như huy động sức dân đào kênh thủy lợi, quân sự Vĩnh Tế; chiến đấu trong các thời kỳ Pháp, Mỹ, chiến tranh biên giới Tây Nam.

Sau gần bảy giờ trên xe, chúng tôi tới Châu Đốc vào khoảng 4g sáng ngày đầu năm mới 2009 mà không biết mình có là những khách du lịch đầu tiên “xông đất” thị xã. Châu Đốc đón đoàn khách bằng vẻ ngái ngủ của một thị xã biên giới miền Tây với những con đường thắp đèn vàng yên tĩnh.
Thật sung sướng khi được hít thở làn gió mát lành buổi sớm từ sông Hậu, nhất là sau khi đã vượt qua chặng đường thành phố đông nghẹt trong đêm cuối năm để về đến tận nơi này.

Châu Đốc những ngày đầu năm mới thật rực rỡ. Đã bắt đầu vào mùa khô với những ngày nắng dài chói lọi trên sông Hậu. Tết sắp tới, hoa đã tập trung về trên phố. Cờ đỏ treo dọc những con đường lớn trong thị xã và trên khắp những con đường nhỏ trong làng mừng năm mới 2009.

Nhưng Châu Đốc, nơi sinh sống của đồng bào Kinh, Khơme, Chăm và Hoa vốn không cần đợi năm mới để rực rỡ. Bản thân nó và những huyện xung quanh luôn luôn hấp dẫn khách du lịch bởi nền văn hóa đa dạng, nhiều màu sắc.

Thăm Châu Đốc lần này, chúng tôi không đi theo lộ trình quen thuộc của du khách với làng cá bè, làng Chăm Đa Phước, Thánh đường Mubarak, cụm di tích núi Sam mà thuê xe máy và chạy xe suốt ngày theo một lịch trình vô định của những khách du nhàn rỗi nhất. Rẽ vào những đường ngang ngõ hẻm, la cà ở những điểm tham quan vắng bóng khách du lịch và dừng lại ăn trưa ở những quán ăn ven đường nơi bọn trẻ con mải nhìn khách lạ quên ăn. Thế mới biết vẻ đẹp mới lạ và rực rỡ của điểm tham quan tưởng như đã vô cùng quen thuộc này.

Ngay ở thị xã, những chiếc xe lôi đạp gợi nên một không khí của những ngày xưa cũ với xe kéo tay. Một chiếc xe đạp lôi chậm chậm đi qua ngôi nhà cũ kỹ, người phụ nữ ngồi trên xe hờ hững nhìn xe cộ đi ngang, không khí ấy khiến người ta tưởng như mình đang xem lại những thước phim Người tình, quay cảnh chợ Lớn nhiều năm về trước.

Sau khi lang thang ở thị xã, ghé ăn mít được đem tới từ những làng Chăm ven thị xã, rất ngọt và giòn, chúng tôi đi dọc đường Bến Đá để thăm làng Chăm Châu Giang. Rồi qua phà Châu Giang chạy ngang sông Hậu, đi theo cung đường “vòng vòng hột vịt lộn” được một bác người Chăm lên giùm, thăm những làng Chăm yên bình của huyện An Phú.

Một ngày nắng đẹp, những dây phơi xung quanh nhà giăng đầy quần áo rực rỡ. Trước sân, người ta phơi cả những dây "tung lò mò” (lạp xưởng bò - một món ăn được yêu thích của người Chăm), trông như những tấm rèm béo ngậy màu đỏ. Bên lề đường phơi đầy củi gáo trắng, củi gáo vàng mới chẻ. Củi khô bó thành từng bó, xếp như hàng rào cạnh nhà.

Đường làng không rộng nhưng rợp bóng cây và rất ít xe cộ qua lại, là nơi trẻ con tụ tập, ăn đá bào pha màu xanh đỏ sặc sỡ. Những xe hàng rong đi lại tấp nập, bán quần áo, đồ gia dụng, trái cây, bún cá lóc đồng nấu với mắm Châu Đốc, các loại bánh: bánh xèo vàng ươm, bánh cam đổ đường thốt nốt trông giống như những trái cam vàng bóng.

Chiều về, cả nhóm vòng trở lại thị xã, đi về phía Nhà Bàng đến cầu Tha La để xem mặt trời lặn trên sông. Ráng chiều vàng lấp lánh dưới những bụi cây trên ruộng ngập nước, những đàn chim bay qua mặt trời. Sau bữa tối sớm, trẻ con và cả người lớn tập trung ngay chân cầu, mang theo chiêng trống, cử nhạc vang lừng ngay trong ánh hoàng hôn.

Qua Nhà Bàng, thị trấn nhỏ một đầu có biển ghi là Nhà Bàng, một đầu ghi... Nhà Bàn; cứ thẳng theo đường 948 là tới vương quốc của cây thốt nốt. Thốt nốt bạt ngàn, soi bóng xuống những thửa ruộng nước, nằm xen kẽ với những đồng lúa đang xanh hay những thửa ruộng đã gặt xong còn lại gốc rạ vàng ruộm. Dưới tán thốt nốt, bò trắng, bò vàng đủng đỉnh nhai rơm. Ven đường thỉnh thoảng lại gặp những ngôi chùa Khơme với vòm mái cong vút và vườn tháp đủ màu rực rỡ.

Đi đâu, chơi gì?

Khoảng cách từ thành phố Hồ Chí Minh đi thị xã Châu Đốc là 245km, nếu chạy xe buýt mất khoảng 6 tiếng.

Cách Thành Phố Long Xuyên khoảng 54km đi về hướng đông theo Quốc lộ 91. Châu Đốc được coi như một địa điểm mua sắm phong phú tại Việt Nam, nơi có những sản phẩm với xuất xứ từ Thái Lan, Malaysia... Giá cả cạnh tranh một phần vì là hàng miễn thuế.
Từ Châu Đốc vượt khoảng 30km qua xã Khánh Bình, bên kia biên giới chưa đầy 1km, khách có thể đến các sòng bạc (casino).

Các di tích danh thắng của thị xã Châu Đốc gồm

Chùa Tây An

Chùa Tây An còn được gọi Chùa Tây An núi Sam hay Tây An cổ tự, là một ngôi chùa phật giáo tọa lạc tại ngã ba, cận kề chân núi núi Sam (cao 284m so với mặt nước biển), thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc tỉnh An Giang, cách thị xã Châu Đốc 5 km.

Chùa Tây An không chỉ là một danh lam để người tin tưởng đến lễ bái, mà còn là một thắng cảnh du lịch nổi tiếng.


Lăng Thoại Ngọc Hầu

Lăng Thoại Ngọc Hầu thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Ðốc, lăng Thoại Ngọc Hầu là một trong số nhiều di tích ở chân núi Sam. Tại đây có đền thờ ông Thoại Ngọc Hầu, mộ ông cùng hai phu nhân được xây vào thập niên 30 của thế kỷ 20.

Thoại Ngọc Hầu được triều đình nhà Nguyễn phong tước hầu cử vào khai phá trấn giữ An Giang. Ông đã tập hợp lưu dân hai tỉnh Quảng Nam - Quảng Ngãi về ở các vùng Ông Chưởng (Chợ Mới), Núi Sập (Thoại Sơn), Châu Đốc, Long Xuyên... Ông là người tổ chức đào kênh Thoại Hà (con kênh có bề ngang 20 tầm - chừng 51m, dài 31.744m) và kênh Vĩnh Tế dài hơn 90km.

Đến Núi Sam tham gia lễ hội Vía Bà Chúa Xứ

Núi Sam cao 284m nằm ở vùng đồng bằng, có đường nhựa dài khoảng 5km cho xe chạy vòng quanh lên tận đỉnh núi. Núi thấp có nhiều đường mòn, nhiều ngả lên xuống, ít cây cổ thụ. Theo truyền thuyết, núi có nhiều linh hiển, nên có nhiều chùa thờ Phật đã dựng lên tại đây gần 2 thế kỷ. Ðồng bào khắp nơi hành hương về đây cúng lễ rất đông. Có đến 200 ngôi đền, chùa, am, miếu nằm rải rác ở chân núi, sườn núi và cả trên đỉnh. Trên đỉnh núi có một pháo đài được xây dựng từ thời Pháp.

Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam Châu Ðốc là một hoạt động tín ngưỡng dân gian có từ lâu đời. Hàng năm, nơi đây đã thu hút trên 2 triệu lượt khách hành hương.

Chùa Hang

Chùa Hang, tên chữ Phước Điền Tự, tọa lạc nơi triền núi Sam (Vĩnh Tế Sơn), Châu Đốc; là một danh lam - thắng cảnh của tỉnh An Giang và là một Di tích Lịch sử cấp quốc gia tại Việt Nam. Chùa được xây dựng vào khoảng năm 1840-1845, nằm tách rời với cụm di tích núi Sam trên độ cao hàng trăm mét, ở một nơi thanh tịnh, Phước Điền tự (chùa Hang) được biết đến như là một nơi trang nghiêm cổ kính với nhiều huyền thoại, truyền tụng từ đời này sang đời khác, tạo sức hấp dẫn du khách có tính hiếu kỳ.

Theo Dulich.tuoitre, Chudu24

Thứ Tư, 18 tháng 8, 2010

Tổng quan du lịch Huế

Huế là một thành phố ở miền Trung Việt Nam và là tỉnh lị của tỉnh Thừa Thiên-Huế. Là kinh đô của Việt Nam dưới các triều đại Tây Sơn và triều Nguyễn, Huế nổi tiếng với những đền chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc gắn liền với cảnh quan thiên nhiên.

Tổng quan

Tọa độ: 16°28′N 107°36′E / 16.467, 107.6
Tỉnh: Thừa Thiên-Huế
Thành lập thành phố: 21/12/1945
Đô thị loại 1: 24/8/2005
Diện tích tổng cộng: 83,3 km²
Mã điện thoại: 54
Biển số xe: 75
Phân chia hành chính: 24 phường, 3 xã

Lịch sử và tên gọi

- Thuận Hóa
Năm 1306, Công chúa Huyền Trân về làm vợ vua Chiêm là Chế Mân, đổi lấy hai châu Ô và Rí làm sính lễ!
Năm 1307, vua Trần Anh Tông tiếp thu vùng đất mới và đổi tên là châu Thuận và châu Hóa. Việc gom hai châu này làm một dưới cái tên phủ Thuận Hóa được thực hiện dưới thời nội thuộc Nhà Minh. Đến đời Nhà Hậu Lê, Thuận Hóa là một đơn vị hành chính cấp tỉnh. Năm 1604, Nguyễn Hoàng đã cắt huyện Điện Bàn thuộc trấn Thuận Hóa, nâng lên thành phủ, sáp nhập vào trấn Quảng Nam. Thuận Hóa dưới thời các chúa Nguyễn, (thế kỷ 17- 18) là vùng đất trải dài từ phía nam đèo Ngang cho tới đèo Hải Vân.

- Phú Xuân
Năm 1626, để chuẩn bị cho việc chống lại họ Trịnh, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên dời dinh đến làng Phước Yên (Phúc An) thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên và đổi Dinh làm Phủ. Năm 1636, Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan chọn làng Kim Long, thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, làm nơi đặt Phủ. Năm 1687, Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Trăn, dời Phủ chúa về làng Phú Xuân, thuộc huyện Hương Trà và năm 1712, chúa Minh Nguyễn Phúc Chu dời phủ về làng Bác Vọng, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên làm nơi đặt Phủ mới. Đến khi Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát lên cầm quyền năm 1738 thì phủ chúa mới trở về lại vị trí Phú Xuân và yên vị từ đó cho đến ngày thất thủ về tay quân họ Trịnh. Năm 1802, sau khi thống nhất Việt Nam, vua Gia Long đã đóng đô ở Phú Xuân, mới gọi là Kinh sư.

- Địa danh Huế
Hiện chưa có nguồn thông tin nào khẳng định địa danh Huế chính thức xuất hiện lúc nào. Một số kiến giải về địa danh Huế đã căn cứ trên những dữ kiện về ngôn ngữ và từ điển thì có thể chữ Huế bắt nguồn từ chữ Hóa trong địa danh Thuận Hóa.

Khí hậu

Mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, trời nóng nực oi bức, nhiệt độ có khi lên tới 35-40 độ C. Tháng 8 đến tháng 1 là mùa mưa, trong đó từ tháng 10 trở đi là mùa bão lụt, nhiệt độ trung bình 20 độ C, có khi xuống thấp đến 9 độ C. Mùa xuân kéo dài từ tháng 1 đến cuối tháng 2.

Văn hoá Huế

Thuận Hóa - Phú Xuân -Huế có một quá trình lịch sử hình thành và phát triển khoảng gần 7 thế kỷ (tính từ năm 1306). Trong khoảng thời gian khá dài ấy Huế đã tích hợp được những giá trị vật chất và tinh thần quý báu để tạo nên một truyền thống văn hóa Huế. Truyền thống ấy vừa mang tính đặc thù - bản địa của một vùng đất, không tách rời những đặc điểm chung của truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam; trong tiến trình hình thành văn hóa Huế có sự tác động của văn hóa Đông Sơn do các lớp cư dân từ phía Bắc mang vào trước thế kỷ 2 và sau thế kỷ 13 hổn dung với thành phần văn hóa Sa Huỳnh tạo nên nền văn hóa Việt - Chăm. Trong quá trình phát triển, chuyển biến có ảnh hưởng của các luồng văn hóa khác các nước trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây...

Văn hóa Huế được tạo nên bởi sự đặc sắc về tinh thần, đa dạng về loại hình, phong phú và độc đáo về nội dung, được thể hiện rất phong phú trên nhiều lĩnh vực như: văn học, âm nhạc, sân khấu, mỹ thuật, phong tục tập quán, lễ hội, lề lối ứng xử, ăn - mặc - ở, phong cách giao tiếp, phong cách sống...

Đến

Bằng máy bay

Sân bay Phú Bài có những chuyến bay hàng ngày đến và từ TpHCM và Hà Nội, nhưng các chuyến bay này thường bị trì hoãn do thời tiết xấu vào mùa mưa (giữa tháng 10 – giữa tháng 12). Khoảng 25 phút bằng taxi để đến trung tâm.

Sân bay Đà Nẵng, tốn khoảng hai giờ đi xe hơi từ đường hầm Hải Vân.
Giá tham khảo
+ Jetstar: từ HCM - Huế: Jet Saver 450.000 - Jet Flex 850.000

Bằng xe lửa/tàu hỏa

Có vài chuyến tàu mỗi ngày đến Hà Nội, TpHCM, Đà Nẵng (4 giờ). Các chuyến xuôi miền nam qua đèo Hải Vân thì quang cảnh rất ngoạn mục, và từ Đà Nẵng bạn có thể đi taxi hoặc xe gắn máy đến Hội An.
Một vé tàu nằm hạng hai từ TpHCM đến Huế tốn 455.000đ và bạn có thể ngắm cảnh dọc đường suốt chuyến đi.

Bằng xe buýt

Hầu hết các xe và open tour đều đi qua Huế. Từ Huế có thể đi Hội An, Đà Nẵng hoặc ra Hà Nội.
Ngoài ra còn có xe buýt thường xuyên đi Savanakhet và Vientiane ở Lào. Xe đi lúc 6 giờ sáng và 18hPM. Chuyến đi Savanakhet mất 12 tiếng và giá 12USD, đi Vientiane mất 20 tiếng và vé từ 15-20USD. Phương tiện có thể là minibus, xe máy lạnh hoặc một xe 30 tuổi đời. Đôi khi phải đổi xe 3,4 lần. Vé có thể mua ở bất cứ đại lý vé nào ở trung tâm Huế.

Dạo quanh

- Bằng taxi
Một chuyến xe đi 2 lăng mộ, tính cả thời gian chờ sẽ tốn khoảng 200.000đ.
- Bằng xe gắn máy
Thuê một xe gắn máy và gia nhập vào dòng người địa phương dọc đường. Mỗi ngày thuê giá 5USD, thuê từ các khách sạn và cửa hàng.
Xe đạp cũng là một sự lựa chọn khoảng 20-30.000đ ngày.
- Bằng xích lô
- Đi bộ
Huế tương đối nhỏ, vì thế bạn có thế đi bộ đến các khách sạn nhà hàng và kinh thành. Nhưng cần phải đi xe đến các lăng mộ.



Nhà trọ Hoàng Hương
Giá phòng từ 60 - 200 ngàn.
46/2D Lê Lợi. ĐT: 054.828509

Nhà trọ Mimosa
Giá phòng từ 12-15US$
46/6D Lê Lợi. ĐT: 054.828068

Khách sạn Phượng Hoàng
Giá phòng từ 10-25 US$.
48/3Đ Lê Lợi. ĐT: 054.826736

Khách sạn Hoa Sen
Giá phòng từ 15-25US$
33Đ Đinh Công Tráng. ĐT: 054.525997

Century Riverside Hotel
Giá phòng từ 70-200 US$
49Đ Lê Lợi. ĐT: 054.823390

Ẩm Thực

Cơm hến

Cơm hến là món ăn dân dã, nghèo mà vẫn sang, đậm đà hương vị. Cơm cồn hến người ta còn cho nó cái tên sang trọng: "Cao lâu cồn" để tôn vinh cái giản dị, mộc mạc, thanh đạm mang đầy chất Huế.
Cơm hến là món ăn cay, cay chảy nước mắt, cay toát mồ hôi. Cơm của cơm hến là cơm nguội, mùi ruốc mặn nồng thơm nức mũi, vị chua thanh của khế, mùi thơm ngây ngất của rau thơm, chuối bắp, bạc hà, vị ngọt đằm thắm của nước hến, béo ngậy của tóp mỡ, vị cay đến xé lưỡi, đến phỏng miệng của ớt tương...

Người ăn cơm hến đôi lúc vẫn chưa vừa lòng với món ớt tương cay nồng sẵn có, còn cắn thêm trái ớt tươi, kêu cái "bụp!" rồi xì xụp, xuýt xoa hít hà cho nước mắt nhỏ giọt, mới thấm thía được cái ngon cơm hến. Thế nên, có người còn gọi là "món ngon trời hành".
Các thôn nữ đội nón lá mỗi sáng gánh cơm hến đi khắp các ngả đường cất tiếng rao lanh lảnh ngọt ngào "hến khô... ông" là hình ảnh và âm điệu không thể nào quên của những người xa Huế.

Vả Huế

Là món ăn dân dã của Huế và vả cũng trở thành món ăn thượng lưu của du khách khi đến Huế. Vả đã để lại trong lòng người xa quê nỗi nhớ quê nhà.
Thiên nhiên dành cho Huế một loài cây thuộc họ sung nhưng trái lớn, đó là cây vả. Vả cho trái ăn vừa ngọt vừa bùi. Vả tạo thêm hương vị đậm đà ngon miệng cho các món ăn từ xào, nấu, kho cho đến ăn sống. Món rau sống kèm với những món ăn như bún thịt nướng, bún thịt kẹp tôm chua, bánh khoái, thịt bò nhúng dấm... thì vùng miền nào cũng như nhau, nhưng ở đây kẹp với miếng vả trắng hồng chấm với mắm nêm trộn với ớt xanh vừa giòn vừa cay đến độ hít hà thì không gì ngon bằng.

Đặc biệt là món vả trộn. Để có món vả trộn xúc ăn với bánh tráng, luộc vả trong nước sôi cho đến lúc nào có thể dùng tay chà bóc lớp vỏ xanh, xong cho vào nồi luộc tiếp cho thật nhừ, bóp tơi quả vả cho thật nhuyển. Mè đem rang vàng chà vỏ, thịt nạc và da heo luộc chín xắt hạt lựu, ướp gia vị nước mắm, hành tiêu, bột ngọt, muối, ớt bột... Các thứ trên trộn đều thành hỗn hợp, thái nhỏ rau thơm, hành, ngò rải trên mặt. Vả trộn ăn với bánh tráng (bánh đa) nướng.

Chưa dừng ở món vả trộn, vả còn cho vào kho chung với thịt heo, thịt bò nhưng hấp dẫn hơn cả là vả kho với cá rô, cá nục, cá ngừ...

Bún bò giò heo

Tô bún giò hay bún bò hấp dẫn thực khách chính là nhờ chất nước ngon ngọt và thơm. Phải có một lần ăn bún đến chảy nước mắt lúc đó mới cảm được cái hương vị xứ Huế nó thâm trầm như thế nào.

Bún thì không đâu không có, nhưng hình thức của con bún thì mỗi miền mỗi khác. Ở Hà Nội, xưa và nay cũng la liệt bún "bún riêu, bún chả, bún ốc, bún thang…" mà có lẽ đặc biệt nhất là bún chả, sợi bún rất mảnh lại cuộn từng lá mỏng, còn chả thì là thịt ba chỉ cặp vào thanh tre rồi đem nướng trên than hoa, chẳng khác gì bún thịt nướng ở Huế nhưng ngon hơn nhờ nước chấm và rau húng. Ở Huế cũng thế, có bún giò heo.

Dọc hai bên đường bạn sẽ gặp ngay ở đây những gánh bún rất bình dân nhưng cũng rất ngon, rất đông khách… Một tô bún giò hay bún bò hấp dẫn thực khách chính là nhờ chất nước ngon ngọt và thơm. Đặc biệt là nồi bún, một nồi bằng nhôm dẻo rất mỏng và được người thợ gò xứ Huế gò rất khéo, trông giống một chiếc nồi đồng ngày xưa nhưng sâu và miệng rộng hơn. Cái nồi được chùi rửa kỳ cọ rất kỹ nên bao giờ cũng sáng trắng, trông rất thích mắt.

Ăn một tô bún đang bốc khói, những sợi bún trắng trong nổi bật trên đó là những viên mọc hồng (được viên từ giò sống và thịt cua), những miếng móng giò được ninh mềm nhừ, với một chút màu trắng của những cọng rá và màu xanh của rau sống, húp một ít nước beo béo đậm đà kèm theo một chút gia vị mắm ớt chanh bạn sẽ thấy vô cùng thú vị, vừa cay, vừa nóng, vừa xuýt xoa, vừa nghe vị ngọt của nước bún của thịt chạy dần vào trong thực quản, chắc chắn bạn sẽ không quên được cái hương vị này. Phải có một lần ăn bún đến chảy nước mắt lúc đó mới cảm được cái hương vị xứ Huế nó thâm trầm như thế nào.

Bánh bèo xứ Huế

Không biết có từ bao giờ, nhưng bánh bèo đã là một đặc sản, một món ăn không thể thiếu của người dân xứ Huế. Bánh bèo có mặt từ mâm cơm dân dã ở mỗi gia đình cho đến các bữa tiệc, ngày lễ, ngày Tết và các dịp đãi khách trọng thể.

Có dịp đến Huế, mới thấy bánh bèo gắn bó với đời sống sinh hoạt của người dân cố đô như thế nào. Khoảng từ 3 đến 5 giờ chiều, đâu đó trên các ngõ phố những phụ nữ gọn gàng trong bộ áo dài thong thả bách bộ với quanh gánh nhẹ trên vai hoặc chiếc thúng nhỏ cắp ngang hông, đi bán bánh bèo, bánh lọc đến từng nhà. Người Huế rất thích và đã thành thói quen dùng loại bánh đầy hương vị quê nhà này vào các bữa ăn phụ, chỉ cần 1.000 đồng là đã có một đĩa bánh bèo lót dạ thơm ngon. Bánh bèo cũng không thiếu trong các bữa "cơm vua" phục vụ khách du lịch và trong các bữa tiệc "cơm cung đình" chiêu đãi các khách quý.

Ở Huế bây giờ còn mọc lên nhiều "phố bánh bèo" quanh cung An Định, đường Ngự Bình, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm... Những "phố bánh bèo" này, thực khách không chỉ là dân Huế mà phần đông là khách từ phương xa đến. Quả thật, ai có dịp đến Huế cũng đều muốn thưởng thức món bánh bèo - một món đặc sản của đất cố đô. Huế còn có nhiều quán bánh bèo, nậm lọc nhưng không ai là không biết đến quán bánh lọc bà Đỏ. Dân Huế thường gọi quán bánh bèo, nậm, lọc Bà Đỏ là quán bánh lọc Mụ Đỏ. Ngoài các loại bánh như bánh lọc, bánh bèo, bánh nậm, ở đây còn có món bánh lá chả tôm rất ngon.

Bánh khoái

Bánh khoái đổ bằng bột gạo xay đánh sệt với nước và lòng đỏ trứng, sau đó thêm tiêu, hành, mắm, muối, tôm bóc vỏ, thịt bò (hoặc chim) nướng thái lát, mỡ thái lát nhỏ, giá sống. Khuôn bánh khoái làm bằng gang hình tròn, to bằng hai bàn tay trẻ con có cán cầm. Khi nào có khách ăn, nhà hàng mới bắc khuôn lên lò đổ bánh. Múc một muôi bột trứng đổ vào khuôn nóng đã tráng mỡ. Tiếng bột bén mỡ xèo xèo bốc lên quyến rũ, bột chín vàng rơm thì gắp một miếng thịt bò nướng, lát mỡ nhỏ, một vài con tôm, ít giá bỏ vào một nửa phần bánh, dùng đũa lật phần bánh còn lại úp lên thành hình bán nguyệt lật bánh cho vàng đều hai bên, xong bày ra đĩa.

Quán Lạc Thiện, số 6 Đinh Tiên Hoàng, TP Huế, trước cửa Thượng Tứ, phía Đông Nam kinh thành Huế.
Ngoài quán Lạc Thiện, còn có thể thưởng thức món bánh này ở quán Lạc Thạnh, quán Hồng Mai... trong nội thành Huế.

Tổng hợp từ khaihoanbar, internet