Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 13 tháng 9, 2010

Mênh mông biển đảo Quan Lạn

Nếu bạn cần đến một địa chỉ du lịch vừa xa xôi, có phần mạo hiểm, vừa lãng mạn và dân dã, thì Đảo Quan Lạn là một nơi lý tuởng cho bạn. Nơi đây hội đủ các yếu của một địa chỉ du lịch lý tưởng: biển, rừng, kiến trúc, văn hóa... Tuyệt hơn, Quan Lạn còn rất hoang sơ dù cái tên của nó không còn xa lạ.

Đảo Quan Lạn thuộc vùng vịnh Bái Tử Long, đây là tuyến đảo phía ngoài cùng của vịnh Bắc Bộ, là vùng đất được thiên nhiên hào phóng ban tặng nhiều lợi thế. Nơi đây không chỉ hội tụ đầy đủ những yếu tố của 1 danh thắng thiên nhiên mà còn lưu giữ trọn vẹn những giá trị lịch sử, truyền thống lâu đời.

Toàn đảo có diện tích 11 km2, trên đó cư dân sống trong 8 thôn làng. Đảo Quan Lạn trải dài theo hướng đông tây, từ chân dãy núi Vân Đồn tới núi Gót với những ngọn núi cao phía đông, tạo nên như bức tường thành ngăn sóng gió từ biển khơi bảo vệ cho cư dân.

Chạy dọc suốt theo hai bên đảo là những bãi cát dài tới hàng chục kilômét, đây là nguồn nguyên liệu làm thuỷ tinh dường như vô tận của biển cả dành cho con người và là tài nguyên du lịch vô cùng hấp dẫn của vùng. Cát Quan Lạn thật kỳ lạ, trắng hơn bất kỳ cát ở đâu, nhỏ li ti, mịn màng, tinh khiết. Đứng trên bờ biển, bạn có thể nhìn rõ dưới làn nước biển. Cũng dưới làn nước ấy, bạn sẽ thấy đủ các loại sắc màu trong thế giới thủy thần như màu xanh của rêu tảo, đỏ của san hô, trắng đen của muôn vàn loài cá tôm bơi lội. Vũ khúc sôi động quay cuồng không ngừng nghỉ bên dưới những ngọn sóng li ti.
Quan Lạn có rất nhiều loại đặc sản biển quý và ngon như mực, cá chim, cá thu, hải sâm, tôm, sái sùng...

Ngay từ thế kỷ 11, Quan Lạn đã là một trung tâm của thương cảng cổ Vân Đồn sầm uất và thịnh vượng, tàu bè ra vào tấp nập. Hiện nay, trên đảo còn có rất nhiều di tích liên quan tới thương cảng đó. Điều này cũng giải thích vì sao giữa chốn biển khơi mênh mông lại có những ngôi chùa to lớn cùng nhiều di chỉ khảo cổ đến vậy.

Người Pháp cũng cho xây dựng ở đây ngọn Hải đăng án ngữ nhằm xác định vị trí và tọa độ cho các tàu buôn ngày xưa. Đây là ngọn Hải Đăng có từ từ đầu thế kỷ 19, được xem là cổ xưa nhất Việt Nam và Đông Nam Á.
Với kết cấu bên ngoài là vô số những viên đá hoa cương được đẽo gọt và tính toán rất kỹ lưỡng sao cho chỉ cần lắp ghép những viên đá vào với nhau có thể tạo thành một khối vững chắc. Bên trong có 184 bậc thang xoáy ốc dẫn lên đỉnh cùng hàng chục bậc tam cấp dẫn lên đến đỉnh đèn. Tất cả vật liệu xây dựng đều được đưa từ Pháp sang kể cả ngọn đèn có công suất 2.000 w trên đỉnh và máy phát điện.

Ngọn đèn này có thể chiếu xa trong vòng bán kính 40 km tương đương 22 hải lý tạo thành những luồng sáng kỳ ảo, nhấp nháy liên tục như một vì sao theo chu kỳ 20 giây 1 lần. Nếu không có cơ hội được leo lên tận đỉnh ngọn hải đăng khi đêm về, bạn chỉ cần ngồi trên cát cũng có thế thấy trong mỗi 20 giây, ánh sáng đèn lặp lại một cách chính xác tuyệt đối trên biển, quét mạnh mẽ vào không gian.

Tại đây có ngôi đình Quan Lạn được xây dựng từ thế kỷ 18 tuyệt đẹp, hiện nay vẫn giữ lại gần như nguyên vẹn, các đường nét chạm khắc hoa văn tinh xảo. Bên cạnh đình là chùa Quan Lạn (Linh Quang tự) thờ Phật và bà chúa Liễu Hạnh. Trong chùa còn có tượng cụ Hậu, một người dân địa phương góp nhiều công sức xây dựng chùa. Bức tượng là một bà cụ già Việt Nam tươi tắn, hiền hòa, chất phác đã tạo nên nét độc đáo của chùa. Cạnh chùa Quan Lạn là Miếu Nghè Quan Lạn (miếu Đức Ông) thờ Phạm Công Chính, một người dân địa phương đã tham gia trận Vân Đồn lịch sử chống quân Nguyên và được suy tôn là Vị Thần.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ internet

Thứ Bảy, 11 tháng 9, 2010

Ra đảo Thổ Châu

Trong đời, nếu có điều kiện nên đi một lần tới hòn đảo cực Tây Nam của Tổ quốc. Thổ Châu - đất ngọc là nơi gắn với nhiều dấu ấn lịch sử trên chặng đường mở cõi, giữ đất, riêng với những ai yêu biển, yêu rừng, Thổ Châu là hòn đảo tuyệt vời…

Ra đảo Thổ Châu (xã Thổ Châu, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang) không dễ dàng vì trong tuần chỉ có 1 chuyến tàu đi và về đất liền. Nhưng cuối năm, tàu thường phải nghỉ bảo dưỡng khoảng 3 tháng. Lúc này muốn vào đất liền phải đi nhờ tàu đánh cá lênh đênh vài ngày trên biển. Vì vậy mà nghe nói đi Thổ Châu, ngay cả một số cán bộ ở huyện Phú Quốc cũng tỏ ra ngao ngán. Bởi lẽ đi đã khó, về càng khó hơn. Gặp lúc biển động thì chỉ còn cách chấp nhận kẹt lại dài ngày trên đảo. Nhưng với những người trẻ thích mạo hiểm và khám phá những vùng đất lạ, những gian khó kể trên nếu vượt qua sẽ được “tưởng thưởng” xứng đáng.

Từ cảng Rạch Giá đến cảng Thổ Châu khoảng hơn 250 km mất 16 giờ ngồi tàu sắt. Đến Phú Quốc, tàu dừng lại nghỉ qua đêm rồi hôm sau mới khởi hành đi Thổ Châu.

Trên tàu không có máy lạnh, quầy bán thức ăn... nên khách cần chuẩn bị đồ ăn khô hay thực phẩm dự trữ. Bù lại, khách có thể nằm thoải mái trên tàu hay toòng teng trên võng hoặc lên boong tàu ngắm biển. Chúng tôi đi thành đoàn nên bày ra nhiều trò chơi tập thể vui nhộn, kéo theo nhiều khách cùng chơi làm thời gian trên biển dường như ngắn lại...

Mọi mệt mỏi chợt tan biến khi tàu cập cảng Thổ Châu. Quanh đảo, nước biển xanh trong vắt, có thể nhìn tận đáy, thấy đàn cá hàng ngàn con tung tăng bơi lội dưới mạn thuyền làm ai cũng phấn chấn.

Dân cư trên đảo Thổ Châu thưa thớt, sống tập trung nhất ở bãi Ngự - trung tâm hành chính của đảo. Diện tích đảo gần 1.400 ha nhưng chỉ có khoảng 420 hộ dân.

Vì vậy, hễ có khách từ đất liền ra, người dân “phát hiện” ngay. Nhiều du khách đến đây cảm thấy vui vẻ và ấm lòng bởi những nụ cười thân thiện từ người dân trên đảo. Các em học sinh gặp khách lạ đều vòng tay chào. Đời sống còn bộn bề khó khăn nhưng bà con rất hòa nhã và hiếu khách. Trên đảo không có nhà nghỉ, khách có thể xin ngủ lại nhà dân hoặc nhờ bộ đội biên phòng sắp xếp chỗ nghỉ qua đêm trong thời gian ở lại đảo.

Đặt chân đến đảo đã 3 giờ chiều. Việc đầu tiên, chúng tôi cất hành lý rồi chạy ngay ra biển tắm. Cách khu dân cư chỉ vài bước chân, bãi cát trắng mịn và làn nước biển trong vắt. Bãi Ngự như một cái vịnh hình bán nguyệt, bao quanh là đỉnh núi. Sóng biển lúc vỗ về, lúc hung hăng dữ tợn. Gió lộng quanh năm, tắm biển rất thú. Chán tắm biển, khách có thể tắm suối, tắm nắng thỏa thích mà không phải tốn bất cứ một loại phí nào.

Hệ sinh thái biển-rừng ở đây rất đa dạng. Theo các nghiên cứu khoa học, hệ thực vật ở Thổ Châu có khoảng 200 loài. Rừng được giữ nguyên trạng, không khai thác. Dưới biển, có 99 loài san hô đã được xác định. Vùng biển này trong lành, không chịu sự tác động nhiều của con người, có nhiều rạn san hô rất thích hợp để các loài rùa biển làm tổ và săn tìm thức ăn. Quần đảo Thổ Châu đang được đề xuất làm khu bảo tồn biển với tổng diện tích 22.400 ha; trong đó, phần đất liền khoảng 1.200 ha.

Màn đêm buông xuống, ngồi cùng nhau nhâm nhi những tách trà, ngụm rượu, nghe cư dân trên đảo kể lại lịch sử bi hùng của vùng đất này. Thổ Châu sớm có tên trên bản đồ hải trình quốc tế, với tên gọi Poulo Pangjang. Dân cư đã có mặt trên đảo từ rất lâu. Tuy nhiên hiện nay, người có “thâm niên” trên đảo này lâu nhất chỉ khoảng 20 năm.

Lý giải điều này, ông Lê Trắc, một trong những người tiên phong ra đảo vào năm 1990, cho biết: Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, bộ đội chưa kịp ra đảo Thổ Châu để tiếp quản. Một ngày đầu tháng 5-1975, người dân mừng rỡ khi thấy những chiếc tàu cập bến. Họ định ra đón mừng bộ đội nhưng chợt thất kinh khi đó là tàu của Pôn Pốt. Chúng lên chiếm đảo, hành hạ người dân. Đến ngày 10-5-1975, chúng đưa hơn 500 người lên tàu chở sang Campuchia giết hại dã man. Một vài hộ sống sót hốt hoảng quay trở về đất liền hoặc các đảo gần bờ hơn. Thổ Châu vắng bóng người dân từ đó. Rồi nơi đây trở thành địa bàn hoạt động của bọn cướp biển Thái Lan và Campuchia. Đến năm 1992, trật tự được vãn hồi mới có đợt di dân ra đảo và thành lập xã đến nay.

Những câu chuyện về đất đảo cứ kéo dài mãi. Đống lửa đốt lúc chạng vạng giờ chỉ còn một nhúm tro tàn nhưng chủ và khách vẫn chưa chịu đi ngủ. Trăng đã lên cao soi rõ những bóng dừa và vẻ đẹp huyền diệu của xứ đảo.

Báo Cần Thơ

Thứ Tư, 1 tháng 9, 2010

Quần Đảo Cát Bà

Quần đảo Cát Bà là quần thể gồm 367 đảo trong đó có đảo Cát Bà ở phía Nam vịnh Hạ Long, ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30 km, cách thành phố Hạ Long khoảng 25 km. Về mặt hành chính, quần đảo thuộc huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Nơi đây đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Vị trí, địa lý

Quần đảo có tọa độ 106°52′- 107°07′Đông, 20°42′- 20°54′độ vĩ Bắc. Diện tích khoảng gần 300 km². Dân số 8.400 người (năm 1996). Các đảo nhỏ khác: hòn Cát Ông, hòn Cát Đuối, hòn Mây, hòn Quai Xanh, hòn Tai Kéo...

Cát Bà, còn gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảo trên vịnh Hạ Long.Theo truyền thuyết địa phương thì tên Cát Bà còn được đọc tên Các Bà. Vì có một thời các bà, các chị ở đây đứng ra lo việc hậu cần cho các ông đánh giặc trên một hòn đảo lân cận. Đảo có tên là đảo các Ông. Như vậy, Cát Bà là đọc chệch của các Bà.

Cát Bà là một hòn đảo đẹp và thơ mộng, nằm ở độ cao trung bình 70 m so với mực nước biển (dao động trong khoảng 0-331 m). Trên đảo này có thị trấn Cát Bà ở phía đông nam (trông ra vịnh Lan Hạ) và 6 xã: Gia Luận, Hiền Hào, Phù Long, Trân Châu, Việt Hải, Xuân Đám. Cư dân chủ yếu là người Kinh.

Có thể đến Cát Bà bằng hai loại phương tiện giao thông:

- Đi tàu thủy từ Bến BínhHải Phòng hoặc từ Vịnh Hạ Long ;
- Đi tàu Cao Tốc từ Bến Bính Hải Phòng đến cầu cảng Cát Bà ; Đi tàu Cánh Ngầm từ Bến Bính Hải Phòng đến cầu cảng Cát Bà
- Đi đường bộ từ Hải Phòng, qua phà biển Đình Vũ nối Hải Phòng với đảo Cát Hải, và phà Bến Gót nối đảo Cát Hải với đảo Cát Bà.

Lịch sử

Tương truyền xưa kia tên đảo là Các Bà, là hậu phương cho Các Ông theo Thánh Gióng đánh giặc Ân. Ở thị trấn Cát Bà hiện nay có đền Các Bà. Các bản đồ hành chính thời Pháp thuộc (như bản đồ năm 1938) còn ghi là Các Bà. Như vậy có lẽ tên gọi Các Bà đã bị đọc trệch thành Cát Bà.

Trước đây đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Bà, năm 1977 mới sáp nhập với huyện Cát Hải thành huyện Cát Hải mới. Trước đây đảo thuộc tỉnh Quảng Yên, sau thuộc khu Hồng Quảng, đến năm 1956 mới chuyển về thành phố Hải Phòng.

Thị trấn Cát Bà hiện nay là huyện lị huyện Cát Hải. Trước năm 1945, thị trấn Cát Bà là phố Cát Bà, rồi đại lý Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, tỉnh Quảng Yên. Sau năm 1945, trở thành thị xã Cát Bà. Đến năm 1957 thị xã Cát Bà đổi thành thị trấn và huyện Cát Bà mới thành lập.

Khí hậu

Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của đại dương nên các chỉ số trung bình về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa cũng tương đương như các khu vực xung quanh, tuy nhiên có đặc điểm là mùa đông thì ít lạnh hơn và mùa hè thì ít nóng hơn so với đất liền. Cụ thể là:

- Lượng mưa: 1.700-1.800 mm/năm, dao động theo mùa. Mùa mưa chủ yếu là tháng 7, 8.
- Nhiệt độ trung bình: 25-28°C, dao động theo mùa. Về mùa hè có thể lên trên 30°C, về mùa đông trung bình 15-20°C nhưng có thời điểm có thể xuống dưới 10°C (khi có gió mùa đông bắc).
- Độ ẩm trung bình: 85%.
- Dao động của thủy triều: 3,3-3,9 mét.
- Độ mặn nước biển: Từ 0,930% (mùa mưa) đến 3,111% (mùa khô)

Du lịch

Trên đảo chính Cát Bà có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi là một nơi đang được đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái. Phía Đông Nam của đảo có vịnh Lan Hạ, phía Tây Nam có vịnh Cát Gia có một số bãi cát nhỏ nhưng sạch, sóng không lớn thuận tiện cho phát triển du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng. Trên biển xuất hiện nhiều núi đá vôi đẹp tương tự vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Ở một số đảo nhỏ, cũng có nhiều bãi tắm đẹp.

- Đường xuyên đảo Cát Bà: dài 27 km, có nhiều đèo dốc quanh co, xuống khoăn, qua áng, men theo mép biển, xuyên qua vườn quốc gia, phong cảnh kỳ thú, non nước hữu tình.
- Vườn quốc gia Cát Bà: có diện tích 15.200 ha, trong đó có 9.000 ha rừng, 5.400 ha biển tạo nên một môi trường sinh thái lý tưởng.
- Động Trung Trang: Nằm cách thị trấn 15 km cạnh đường xuyên đảo, có nhiều nhũ đá thiên nhiên. Động này có thể chứa hàng trăm người.
- Động Hùng Sơn: Cách thị trấn 13 km, trên đường xuyên đảo. Động còn có tên Động Quân Y vì trong Chiến tranh Việt Nam người ta đã xây cả một bệnh viện hàng trăm giường nằm ở trong lòng núi.
- Động Phù Long (Cái Viềng) mới tìm ra, được cho là đẹp hơn động Trung Trang.

Các bãi tắm: Cát Cò 1, Cát Cò 2, Cát Dứa, Cát Ông, Cát Trai Gái, Đường Danh v.v... là những bãi tắm nhỏ, đẹp, kín đáo, có nhiều mưa, che nắng, cát trắng mịn, nước biển có độ mặn cao, trong suốt tới đáy. Người ta dự định xây dựng ở đây những "thuỷ cung" để con người có thể trực tiếp quan sát các đàn cá heo, tôm hùm, rùa biển, mực ống, cá mập bơi lượn quanh những cụm san hô đỏ.

Cát Bà với vẻ đẹp nguyên sơ và hùng vĩ, nó được mệnh danh là Hòn Ngọc của Vịnh Bắc Bộ

Khu dự trữ sinh quyển

Quần đảo Cát Bà có rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các rặng san hô, thảm rong - cỏ biển, hệ thống hang động, tùng áng, là nơi hội tụ đầy đủ các giá trị bảo tồn đa dạng sinh học, bảo đảm các yêu cầu của khu dự trữ sinh quyển thế giới theo quy định của UNESCO.

Cát Bà đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới ngày 19 tháng 12 năm 2004. Ngày 1 tháng 4 năm 2005 tại đây đã diễn ra lễ đón nhận bằng quyết định của UNESCO và kỷ niệm sự kiện này. Việt Nam hiện có 4 khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận là: Cần Giờ, Cát Tiên, châu thổ sông Hồng và quần đảo Cát Bà.

Tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển Cát Bà rộng hơn 26.000 ha, với 2 vùng lõi (bảo tồn nghiêm ngặt và không có tác động của con người), 2 vùng đệm (cho phép phát triển kinh tế hạn chế song kết hợp với bảo tồn) và 2 vùng chuyển tiếp (phát triển kinh tế). Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà là vùng hội tụ đầy đủ cả rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các rạn san hô, thảm rong và đặc biệt là hệ thống hang động.

Vườn quốc gia Cát Bà

Vườn quốc gia Cát Bà là khu rừng đặc dụng của Việt Nam, khu dự trữ sinh quyển thế giới. Vườn quốc gia Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng.
Tổng diện tích tự nhiên của vườn là 15.200 ha. Trong đó có 9.800 ha là rừng núi và 5.400 ha là mặt nước biển

Toàn bộ VQG Cát Bà gồm một vùng núi non hiểm trở có độ cao <500 m, trong đó đa phần là nằm trong khoảng 50-200 m. Đảo Cát Bà chủ yếu là núi đá vôi xen kẽ nhiều thung lũng hẹp chạy dài theo hướng Đông Bắc-Tây Nam.

Rừng ở đây có một kiểu chính là kiểu rừng mưa nhiệt đới thường xanh, nhưng do điều kiện địa hình, đất đai và chế độ nước nên ở đây có một số kiểu rừng phụ: rừng trên núi đá vôi, rừng ngập mặn ven đảo, rừng ngập nước ngọt trên núi. Rừng ở đây cũng có nhiều kiểu sinh thái rừng cá biệt như quần hợp Kim giao (tại khu vực gần đỉnh Ngự Lâm); đơn ưu Và nước (khu vực Ao Ếch).

Thành phần thực vật có 741 loài, nhiều loại cây gỗ quý như trai lý, lát hoa, lim xẹt, dẻ hoa, kim giao, gõ trắng, chò đãi, trên thế giới chỉ có ở dãy núi Himalaya, thực vật ngập mặn 23 loài, rong biển 75 loài, thực vật phù du 199 loài.

Trên khu vực Vườn có Có 282 loài trong đó 32 loài thú, 78 loài chim, 20 loài bò sát và lưỡng ngư, 11 loài ếch nhái. Đặc biệt có loài voọc Cát Bà (tên khoa học: Trachypithecus poliocephalus phân loài poliocephalus) tức voọc đầu vàng (một số tài liệu gọi nhầm là voọc đầu trắng, tên khoa học: Trachypithecus poliocephalus phân loài leucocephalus chỉ có ở Trung Quốc) là loài đặc hữu hẹp của Cát Bà, hiện tại chỉ còn 66 cá thể, chỉ còn phân bố ở các núi ven bờ biển (theo số liệu cung cấp của chi cục kiểm lâm VQG Cát Bà, năm 2007). Động vật phù du 98 loài, cá biển 196 loài, san hô 177 loài.

Nguồn Wikipedia - ảnh Nguyenhuuhuan.info

Thứ Hai, 30 tháng 8, 2010

10 ngày đến Trường Sa - Xa và gần (kỳ cuối)

Ngày D+7-Lễ tưởng niệm trên thềm lục địa và thăm DK1

Lại là 5h sáng, tàu đến khu Nhà giàn DK1 Phúc Nguyên. Đó là do sự thu xếp thời gian hợp lý của những chiến sỹ lái tàu, tính toán để có một thời gian hợp lý nhất cho hành trình.

< Lễ tưởng niệm các liệt sỹ đã ngã xuống trên vùng thềm lục địa phía nam tổ quốc.

Nơi đây, nhiều cán bộ chiến sỹ của các nhà giàn đã hy sinh và bị cuốn đi mất tích trong làn nước dữ của bão tố, khi những nhà gian của ta bị đổ bởi gió bão cấp 10- 11-12.

Cả khu vực thềm lục địa có 20 nhà giàn DK1, 5 chiếc đã bị đổ, nhiều chiến sỹ đã chấp nhận hy sinh cùng với nhà giàn.

Một lễ tưởng niệm trang nghiêm lại được tổ chức ở đây, tưởng nhớ đến hương hồn các chiến sỹ hải quân. Lễ tưởng niệm theo đúng lễ nghi hình thức của quân đội, với không khí bùi ngùi, thương tiếc.
Nhưng điều đáng nói hơn, khi lễ tưởng niệm vừa kết thúc xong, một đám mây đen bay ngang tàu, và mưa lất phất xuống vùng biển của chúng tôi.

Như rất nhiều cơn mưa biển, chỉ một đám mây thôi, còn xung quanh vẫn đầy nắng và ánh sáng. Các anh em hải quân nói, bao giờ cũng thế, cứ mỗi lần làm lễ tưởng niệm trên biển như thế này, bao giờ sau đó cũng mưa.

Điều này lại làm chúng tôi nhớ đến lễ tưởng niệm trên vùng biển Cô lin - Gạc ma. Hôm đó chúng tôi cũng gặp mưa, thế mà chúng tôi không để ý, chỉ khi nghe các anh nói, chúng tôi mới nghiệm ra được điều này.

Nếu đó là sự linh thiêng của linh hồn các anh, cũng mong các anh yên lòng, vì tổ quốc, nhân dân không bao giờ quên những hy sinh của các anh, vì vùng biển thiêng liêng của tổ quốc mình. Mong cho linh hồn các anh mát mẻ!!!

Đến Nhà giàn DK1, đây mới thực sự là thử thách. Khác với vùng biển Trường Sa, trời yên bể lặng, ở khu vực thềm lục địa này, sóng và gió to hơn nhiều, những con sóng cao đến 2 mét.

< DK1 hiên ngang trong nắng, gió và sóng biển.

Đã có rất nhiều đoàn đến DK1, nhưng rồi chỉ đứng nhìn chứ không thể lên được nhà giàn, do sóng và gió. Nhìn chiếc canno nhỏ bé dập trồi bên mạn tàu, va rầm rầm vào thân tàu mà chúng tôi ái ngại.
Vì ở nhà giàn không có bến tàu, chỉ có 1 cầu thang dựng đứng để leo lên, vừa trước đoàn chúng tôi, 1 đoàn trước đã có người bị gãy chân do va đập giữa canno và cầu thang này.

Nhưng rồi phải quyết tâm thôi, vì đã đến chân nhà giàn mà không lên được, hẳn chúng tôi sẽ hối tiếc về sau này. Thế là lên thuyền, đến với nhà giàn.

Tất nhiên là khác với ở Trường Sa, ở đây máy ảnh, máy quay phim phải cất kỹ vào ba lô, bọc thêm nylon cho chắc chắn, bởi sóng khá lớn.
Rồi mọi chuyện cũng ổn thỏa, tất cả chúng tôi đều lên nhà giàn một cách an toàn tuyệt đối, xin cảm ơn sự nhiệt tình và nhẫn nại của các chiến sỹ hải quân. Lên nhà giàn, mới thấy con người thật nhỏ bé trước thiên nhiên bao la và khắc nghiệt, thương 9 anh em trên mỗi nhà giàn.

< Chụp ảnh với súng 12 ly 7 trên đỉnh nhà giàn.

Cả vùng thềm lục địa có 15 nhà giàn, một số cái đã nghiêng hiện không còn sử dụng được, 1 số cái đổ đã được xây dựng lại chắc chắn hơn, nhưng cũng không dám nói trước được điều gì trước sự tàn phá của thiên nhiên.

Chúng tôi lên đỉnh nhà giàn DK1, ngắm mây nước, biển trời, xuống thăm anh em cán bộ chiến sỹ. Cũng kịp nghịch thử khẩu súng 12,7 ly trên đỉnh nhà giàn. 11h, chúng tôi rời nhà giàn, trở lại tàu.

Tạm biệt nhà giàn DK1, đây là điểm hành trình cuối cùng của chúng tôi, của chuyến công tác thăm quần đảo Trường Sa và thềm lục địa phía Nam của tổ quốc. Chúng tôi sẽ nhớ mãi về những người lính biển, nhớ mãi về sự hy sinh thầm lặng của các anh.
Tàu hướng trở về quân cảng Cam Ranh, phía trước là 2 ngày 2 đêm đầy sóng gió trước khi đặt chân tới đất liền.

Chia tay Trường Sa - ngày trở về đất liền


7 ngày đến với Trường Sa trôi qua thật nhanh, đôi khi giống như 1 giấc mơ trên biển. Những khoảng khắc đầy nắng, gió, đầy mồ hôi, sự mệt mỏi vì áp lực công việc, đôi khi là cả cái khát cháy họng, là hành trình nặng chịch máy móc thiết bị trên vai, là cảm giác bập bềnh trên sóng... nhưng lớn hơn rất rất nhiều sự mệt nhọc vì công việc, là cảm giác được chia sẻ, là cảm giác mình đang được đặt chân lên vùng biển đảo thân yêu, cảm giác gắn bó máu thịt với những hòn đảo nhỏ nổi trên mặt nước mênh mông không thấy bờ, thậm chí cả những cảm giác, rằng biết bao linh hồn những người dân Việt đã nằm lại trên vùng biển này vẫn đang dõi theo hành trình của mình.

Con tàu lên đường, hành trình ngược về đất liền, đó là một hành trình dài 48h đồng hồ lênh đênh trên sóng nước. Biển vẫn mênh mông trong tiếng sóng rì roạp vỗ vào thân tàu, con tàu chòng chành hơn trong cái gió chuyển mùa.
Không còn những háo hức, những bỡ ngỡ ban đầu, tất cả đã trở nên quen thuộc. Nào Nam Yết, nào Song Tử, Trường Sa, nào Đá Nam, Đá Lát, Coolin...và những nhà giàn DK1 hiên ngang trong nắng trời lồng lộng của vùng thềm lục địa. Tàu đi về phía Bắc, tiến gần hơn với đất liền. Những thành viên trong đoàn im lặng nhìn về phía chân trời xa. Hẳn mỗi người đều có những suy nghĩ riêng cho mình, nhưng trong tất cả những nỗi niềm riêng ấy, có 1 điều lớn lao chung, đó là 2 từ: TỔ QUỐC.

Đã thấm mệt sau một hành trình dài công việc liên miên, tôi chìm vào giấc ngủ dài. Trong giấc ngủ chập chờn, vẫn cảm nhận tiếng cười nói lao xao của mọi người, tiếng đàn hát đầy chan hòa, tiếng hò reo mỗi khi câu được con cá to, cảm nhận con tàu lắc lư theo sóng.

Hôm sau, một cuộc gặp mặt thân mật đã diễn ra ngay trên boong tàu, cùng chia sẻ tình cảm giữa những người lính hải quân với đất liền, cùng ôn lại những kỷ niệm trên cả hành trình dài lênh đênh trên biển. Và mỗi người chúng tôi được tặng 1 huy hiệu “ Chiến sỹ Trường Sa” - chiếc huy hiệu mà những người lính đảo phải công tác 3 năm liên tiếp mới được nhận. Với chúng tôi, đó là món quà đầy ý nghĩa, ghi nhận rằng, chúng tôi đã được đứng trong hàng ngũ những người giữ biển đảo quê hương. Một hành trình thật ngắn, nhưng trong đời, dễ mấy khi có những hành trình đầy thiêng liêng như thế. Gần 1000 hải lý để cảm nhận rằng : Trường Sa tuy xa nhưng cũng thật gần./.

Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ cuối
 
Dudu 08

Nguồn từ Phuot.com forum

Đọc và xem phóng sự ảnh của bác Dudu để thấm thía cái cảm xúc dâng trào từ đáy lòng, cảm ơn bài của bác.
ĐGD

10 ngày đến Trường Sa - Xa và gần (kỳ 4)

Đảo Trường Sa lớn - thủ phủ của huyện đảo Trường Sa

Trường Sa lớn cách đảo Đá Tây chừng 20 hải lý nên chỉ chỉ mất hơn 2 giờ đồng hồ trên biển để hội ngộ "thủ phủ" sau khi rời đảo này.

13h30, tàu đã đến Trường Sa lớn, thủ phủ của huyện đảo Trường Sa. Đây cũng là đảo lớn duy nhất của chúng ta đã xây dựng xong cầu cảng, có 1 đường băng ngắn chừng 600m cho máy bay trực thăng và máy bay nhỏ.

Vì là thủ phủ, đảo được đầu tư khá bài bản và quy mô lớn, với hệ thống kè chắn sóng, chống được xe tăng đổ bộ đã kín xung quanh đảo, với nhà cửa khang trang, với 1 khu nhà khách thủ đô, 1 tượng đài Liệt sỹ, tượng Bác Hồ...

Hải đăng Trường Sa lớn cũng mới được xây dựng, đẹp và quy mô. Bước trên cầu cảng Trường Sa lớn, chúng tôi cứ lâng lâng niềm vui và tự hào vì biển đảo chúng ta đã đẹp và hiện đại hơn rất nhiều.

< Cầu cảng trên đảo, đảo duy nhất có cầu cảng lớn, tàu có thể cập vào tận bờ.

Đã có biết bao nhiêu công sức, tiền của, thậm chí cả xương máu của anh em chiến sỹ đã đổ xuống biển, để có một hạ tầng khang trang như thế.

Tôi thực sự ấn tượng về quy mô của đảo cũng như cơ sở hạ tầng nơi đây. Chúng tôi trèo lên hải đăng, ngắm 1 vòng toàn đảo, đảo xanh một màu xanh của cây cối, của lá bàng vuông, của cây phong ba, của cây lá nho...

< Trường Sa lớn, nhìn từ Hải đăng Trường Sa.

Tôi đã dành cả buổi chiều đi một vòng trên bờ kè của Trường Sa lớn, ngắm sóng biển dạt dào đập vào bờ, nhìn những bãi cát san hô, hay đi trên đường băng rộng mênh mang, ngắm bầu trời Trường Sa xanh thẳm, thấy yên tâm hơn trước chủ quyền của dân tộc trên quần đảo Trường Sa.

Bữa ăn tối được tổ chức dưới những tán bàng vuông, thân tình, ấm cúng, ăn món lợn được nuôi trên đảo. Đi 1 hành trình dài trên biển, ăn miếng lòng lợn tiết canh thấy lạ lạ.

< Và đường băng trên đảo Trường Sa, dài 600m và đang có kế hoạch kéo dài 1km.

Sau bữa ăn tối, tôi đi lang thang một mình dọc theo đường băng trên đảo. Trong bóng tối, trên đầu là bầu trời sao lồng lộng, bên cạnh là bóng tối như mênh mang của đường băng, tôi đi về đầu 1 đường băng trên đảo, bóng tối như bưng vào mắt, vừa đi vừa nghe nhạc.

Chợt có ánh đèn pin lóe lên, bỏ tai nghe, nghe có tiếng hô của mấy chiến sỹ đang trực chiến, hỏi mật khẩu.

Hôm nay đảo có khách, việc đảm bảo an ninh cũng đỡ căng hơn, bình thường không có chuyện được lang thang đêm và không biết mật khẩu như thế này.
Ngồi trong bóng tối như bưng, bên cạnh 2 chiến sỹ, mời điếu thuốc lá, thương anh em vất vả, tôi lại đi về tàu, lấy thêm mấy bao thuốc lá, đưa ra tặng anh em, coi như 1 chút tình cảm của đất liền.
Đêm ấy, chúng tôi ngủ trên tàu, tàu neo bên cầu cảng, nửa đêm nghe tiếng sóng vỗ bờ, nao nao nhớ đất liền.
Một ngày mới trên Trường Sa lớn đón chúng tôi bằng một cơn mưa rào, cơn mưa làm không khí trở nên mát mẻ, dễ chịu, khác hẳn cái oi nóng của ngày hôm qua.

Mưa trên biển cũng có nhiều điều mới mẻ, đó là nơi này mưa dào dạt, nhưng ở đằng xa, một phương trời khác, bình minh vẫn đang lên, nắng vẫn chói chang ở một góc trời.
Nước biển cũng vì thế mà đầy huyền hoặc, mảng tối, mảng sáng, mảng xanh, mảng đen trên mặt biển mênh mang.

Ngày D+6: rời Trường Sa lớn - thăm Đá Lát - di chuyển về DK1

Sau khi tranh thủ đi thăm 1 vòng nữa của Trường Sa lớn, chúng tôi lên tàu, rời đảo. Cuộc tiễn ở cầu tàu dường như quy củ hơn, hoành tráng. Tàu kéo 3 hồi còi chào đảo, Trường Sa lớn xa dần, chỉ còn lại dáng đảo đầy xanh tươi và kiêu hãnh giữa biển xanh...

Tiếp theo Trường Sa Lớn, tàu tạt qua Đá Lát. Cũng rất gần thôi, chỉ chừng 2h đồng hồ, tàu đã tới Đá Lát. Đây cũng là một đảo chìm, trên một bãi san hô nổi rộng mênh mông.

Một trong những mục đích của tàu đến Đá Lát, đó là cung cấp nước ngọt cho đảo, bởi nước dự trữ trên này đã cạn.
< Sau 2 giờ x 8 hải lý/giờ, tàu đã đến Đá Lát
Đảo chìm, nhưng nằm giữa một vùng san hô khá cao, nên phải đợi lúc thủy triều cao thì canno mới vào được.

Khi triều xuống, mực nước quanh đảo chỉ còn vài chục phân, thậm chí còn nổi cả cồn san hô, với chu vi cả km.

< Xuồng vào thăm đảo, quanh đó là thềm san hô.

Chính vì vậy, chúng tôi chỉ có 1h đồng hồ thăm đảo, thăm cán bộ chiến sỹ trên Đá Lát.

< Nước ngọt tái sử dụng trên đảo Đá Lát

Đảo chìm, điều kiện đi lại cũng khó khăn, nên cũng ít đoàn thăm đảo, tình cảm của cán bộ chiến sỹ cũng nồng nhiệt hơn, và sự có mặt của chúng tôi cũng động viên anh em nhiều.
< Nhưng không vì thế mà không quan tâm đến khách. Chậu nước rửa tay dành cho khách quý, khi mà mỗi ngày trên đảo, 1 người chỉ có 3 lít nước. Chính vì thế, chẳng ai nỡ rửa tay.


Sau những hàn huyên, tàu rời Đá Lát, rời bãi san hô mênh mông, chia tay với vùng quần đảo Trường Sa thân yêu để đi sâu về phía Nam, đến với vùng thềm lục địa của tổ quốc, với những dàn DK1 nổi tiếng, những giàn canh gác chủ quyền thềm lục địa giàu tài nguyên của tổ quốc ta.

Lại là một hành trình lênh đênh trên biển 10h đồng hồ để đến DK1 Phúc Nguyên.
 
 
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ cuối

Dudu 08
Nguồn từ Phuot.com forum

10 ngày đến Trường Sa - Xa và gần (kỳ 3)

Ngày D+4, lễ viếng các liệt sỹ trên khu vực đảo Gạc Ma - Cô lin - Len đao, thăm đảo Colin

5 giờ sáng, tàu đến khu vực đảo Gạc Ma - Cô lin - Len đao, khu vực cuối cùng của vùng biển phía Bắc quần đảo Trường Sa.

Nhắc đến vùng đảo chìm này, hẳn chúng ta không thể nào quên những thước phim tư liệu mà lâu rồi, ai đó đã post lên Youtube cảnh những chiến sỹ công binh hải quân ta - không một tấc sắt trong tay, nắm tay nhau giữ đảo chìm, nước ngập ngang thân hào hùng hứng chịu những làn đạn, hòa thân thể và tuổi thanh xuân của mình vào lòng biển xanh nơi này. 1 tàu vận tải của ta đã chìm xuống đáy biển, 1 tàu còn lại bị bắn cháy đã cố sức lao lên thẳng bãi đá ngầm Cô lin.
Hiện đối phương đã xây dựng từ bãi ngầm 1 tòa nhà phòng thủ kiên cố. Còn bãi Cô lin nay đã được chúng ta giữ gìn và xây dựng thành 1 đảo nhỏ, trên nền đá san hô, chỉ rộng hơn 100m2.

< Toàn cảnh bãi Gạc ma - từ trái sang phải - cột chủ quyền dựng trái phép - tàu chiến hộ vệ tên lửa số 998 - đảo Gạc ma do đối phương xây dựng hình dáng giống như 1 chiến hạm.

Gạc ma giờ nằm trong sự chiếm đóng của nước ngoài. Nhìn cột chủ quyền của bọn họ dựng lên trên bãi Gạc ma mà đau xót. Bên cạnh đó là chiếc tàu hộ vệ tên lửa mang số hiệu 998 của họ, chiếc tàu được nhìn từ khoảng cách 6-7 hải lý, gần 12km, thế mà vẫn to lừng lững. Nhưng đây chỉ có lòng căm thù, không hề sợ hãi.

Lễ tưởng niệm các liệt sỹ đã hy sinh trên khu vực đảo Gạc Ma - Cô lin được tổ chức ngay trên boong tàu, đơn sơ mà thành kính.
Vòng hoa tưởng niệm các anh được thả xuống mặt biển. Một ca sỹ theo đoàn cất lên tiếng hát nghẹn ngào bị ngắt quãng nhiều lần trong nước mắt, lòng chúng tôi cũng trĩu nặng theo. Rất nhiều rượu, thuốc, tiền vàng mã được chúng tôi gửi vào lòng biển, tưởng nhớ các anh. Nhiều người đã không cầm được nước mắt. Dưới cái nắng đầu ngày, giọt mồ hôi nhỏ xuống bên khóe mắt. Tổ quốc không bao giờ quên nỗi đau này, chúng tôi không bao giờ quên các anh.

Sau nghi lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh trên quần đảo Trường Sa, chúng tôi vào đảo Cô lin thăm các chiến sỹ đang giữ đảo. Đảo rất nhỏ, chỉ là những ngôi nhà được xây trên nền bãi chìm, người lính chỉ quanh trong 4 bức tường. Những câu chuyện với những người lính càng làm chúng tôi thương các anh em hơn.

Tàu cũng tranh thủ tiếp nước cho đảo, đảo thì lấy mọi thứ có thể trữ nước để lấy nước từ tàu. Đảo không có đất, có 1 cây bàng vuông được các chiến sỹ ta trồng vào chiếc can nhựa cắt nắp, cây cũng lên cao chừng gần 2m, lá xanh mướt, như sức sống của những người lính tuổi đôi mươi giữ đảo.

< Cầu cảng của đảo Côlin, Cano chở nước ngọt tiếp tế cho đảo. 6 tháng rồi, đảo không có mưa.

Sau những giờ hàn huyên, gặp gỡ, chúng tôi trở về tàu. Chúng tôi cũng xin với các đồng chí chỉ huy hải quân, để anh em được lên tàu tắm nước ngọt và cùng ăn bữa cơm với cả đoàn. Đề nghị ấy được chấp thuận.

Ở đảo, mùa này không có nước, anh em chỉ được hạn mức 3 lít nước mỗi ngày, cho cả ăn uống và tắm gội. 3 lít nước, bằng 2 chai lavie to, điều đó làm chúng tôi đầy thông cảm và có chút áy náy rằng đôi khi mình sống vô tâm, khi nước trên tàu chúng tôi dùng thả cửa.

Và sau khi anh em đã lên tàu, đã tắm nước ngọt, đã chia sẻ với bữa cơm đầy tình hậu phương, quà gửi về đảo là những chiếc bắp cải, những mớ rau muống, vài quả đu đủ, ít lon nước ngọt, thuốc lá...

Vườn rau xanh trên đảo chìm, nhỏ bé giữa trùng dương, sóng gió và muối mặn, vì thế, vườn rau là nơi được chăm chút che chắn nhất >

Những cái bắt tay thật chặt, lưu luyến với những người ở lại, còn đoàn công tác lại tiếp tục lên đường. Tàu thẳng xuống phía Nam, nơi ấy có đảo Trường Sa lớn. Chúng tôi sẽ phải mất 18 tiếng đồng hồ để đến với khu vực phía Nam quần đảo Trường Sa, với địa danh đầu tiên đến thăm là đảo Đá Tây.

Ngày D+5, thăm Đá Tây - Trường Sa lớn


Đảo Đá Tây được xây dựng giống y như cấu trúc của đảo Cô Lin, là kết cấu nhà lô cốt dựng trên nền đảo chìm san hô.

< Toàn cảnh trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá Đá Tây

5h sáng, tàu đến đảo, nhìn xa mờ, đảo nằm trên một nền san hô khá rộng, và bên cạnh là một khu nhà khá đẹp, màu trắng, có nóc nhọn vươn lên như 1 khu biệt thự nào đó. Hỏi ra thì biết rằng đó là khu dịch vụ hậu cần nghề cá trên đáo Đá Tây.

Điều đặc biệt với đảo Đá Tây, đó là có 1 hồ rộng, sâu đến 30m, nằm giữa vùng đá san hô, có luồng vào cho tàu cá.

Nói là hồ, nhưng cả vòng bờ của hồ cũng chìm dưới nước, không nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng khi có bão tố, thì tàu cá của mình có thể vào tránh bão, sóng đánh không qua bờ san hô.

Cũng vì vậy, đảo là nơi lý tưởng để xây dựng một khu dịch vụ hậu cần nghề cá, vừa là nơi tàu vào trú ngụ, vừa là nơi cung cấp dầu, nước ngọt, sửa chữa tàu biển...

Nhìn từ Đá Tây sang, khu dịch vụ hậu cần nghề cá trông rất đẹp, lại có doi cát vươn ra biển, đầy thơ mộng giữa mênh mông biển trời. Lên Đá Tây, nhìn ra thềm đảo san hô, đẹp không gì tả xiết.

Tôi đi loanh quanh, vào từng ngõ ngách của ngôi nhà trên đảo. Ngôi nhà này là nhà mới, vừa được đưa vào sử dụng để thay thế ngôi nhà cũ đang sửa sang mới.

Chính vì thế, ở Đá Tây có 1 cây cầu rất đặc biệt, nối giữa 2 ngôi nhà, cùng với ngôi nhà hậu cần nghề cá ở cách xa chừng hơn 100m nữa, tạo thành một hệ thống kiến trúc đầy mê hoặc với những tay máy ảnh.

< Trung tâm dịch vụ nghề cá Đá Tây đẹp như 1 tòa biệt thự giữa trùng khơi.

Canno đưa chúng tôi sang khu vực dịch vụ hậu cần nghề cá, khá đẹp, rộng rãi, hệ thống hạ tầng đủ sức phục vụ các tàu cá vào.

Đứng từ nơi này nhìn sang, dù chỉ cách chừng hơn 100-200m, nhưng đảo Đá Tây trông nhỏ xíu. Thăm anh em một chút, chúng tôi rời đảo, về tàu để tiếp tục đến Trường Sa lớn, trung tâm của quần đảo Trường Sa.

< Hồ Đá Tây, nói là hồ, nhưng chẳng thấy bờ, và 2 chiếc tàu của công ty nuôi trồng thủy sản đang thử nghiệm nuôi cá lồng trên biển.

Rồi cũng tới lúc phải từ giả Đá Tây để hướng đến Trường Sa Lớn...

Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ cuối
 
Dudu 08
Nguồn từ Phuot.com forum