Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2010

Chợ nổi: Nét văn hóa sông nước ở Cà Mau

Cà Mau là một vùng đất trẻ, bởi chỉ mới được khai phá từ những thập niên cuối thế kỷ 18.

Mảnh đất này được thiên nhiên ưu đãi, ban tặng cho những điều kiện mà nhiều nơi khác không có được: Ba mặt tiếp giáp biển và một hệ thống sông rạch chằng chịt. Chợ nổi Cà Mau như là sự giao hòa của con người và thiên nhiên ở miền sông nước hữu tình này.

Cà Mau có khá nhiều chợ nổi nhưng có hai chợ được xếp loại là chợ nổi phường 8, trên sông Gành Hào, Cà Mau và chợ nổi Thới Bình, tại ngã ba sông Trẹm - Chắc Băng, huyện Thới Bình.

So với những chợ nổi mua bán trên sông nổi tiếng miền Tây Nam Bộ như: Cái Răng, Phụng Hiệp - Ngã Bảy, Phong Điền (Cần Thơ), Cái Bè (Tiền Giang)… thì chợ nổi ở Cà Mau hãy còn “thua chị, kém em” về quy mô, cơ sở hạ tầng, số lượng ghe xuồng neo đậu trao đổi, mua bán hàng hóa.

Chợ nổi nhóm họp, buôn bán trên sông mang tính tự phát. Sản phẩm trao đổi mua bán chủ yếu là các loại hàng nông sản thực phẩm, trái cây, hoa màu… sản xuất tại địa phương, các vùng lân cận chuyển tới phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ hoặc đưa đi tiêu thụ tại các chợ huyện, xã…

Theo đó, nào là bắp cải, khoai lang, bầu, bí, sắn, quýt, cam… treo lủng lẳng trên mui ghe để giới thiệu, mời gọi khách mua hàng. Trong khu vực ĐBSCL có không ít chợ nổi vừa là đầu mối buôn bán sỉ hàng nông sản thực phẩm, vừa là điểm tập kết xuất khẩu trái cây.

Theo thống kê chưa đầy đủ của ngành chức năng tỉnh Cà Mau, ngày thường tại chợ nổi phường 8 có trên dưới 200 phương tiện ghe, tàu neo đậu mua bán, trao đổi hàng hóa. Phần lớn ghe có trọng tải từ 2 - 2,5 tấn, chuyên chở, mua bán nhiều mặt hàng như: dưa cải, củ cải muối, bắp, khoai, bí bầu…

Đi chợ nổi Cà Mau những ngày sắp Tết này thật lắm chuyện buồn, vui, hàng trăm ghe tàu vận chuyển, mua bán hàng hóa neo đậu tấp nập, ken đặc cả một khúc sông. Người mua, kẻ bán rộn ràng, nhộn nhịp. Nhưng có lẽ ấn tượng nhất là những chiếc ghe dưa hấu từ miệt vườn Long An, Cần Thơ chuyển xuống; nhiều chiếc khác trên mui chở đầy hoa, kiểng đủ màu tươi tắn từ Sa Đéc - Đồng Tháp, Cái Mơn - Bến Tre đến góp mặt cho chợ Tết Cà Mau thêm xôm tụ…

Trong vai người mua hàng, chúng tôi ghé vào ghe hàng của ông Nguyễn Văn Thuận, quê ở miệt Ba Tri, tỉnh Bến Tre, ông sống nghề sông nước gần 30 năm. Trong cuộc trò chuyện, ông Thuận nhớ lại: "Cuộc đời thương hồ nay đây, mai đó của tôi gần 30 năm qua. Tôi không biết mình đã đi bao nhiêu dòng nước sông, con rạch, ghé buôn bán hàng ở những chợ nào, nhưng có thể nói rằng, sông nước ĐBSCL này tôi rành rọt từng ngõ ngách, thuộc từng tên chợ như nằm trong lòng bàn tay".

Đời thương hồ của họ là vậy, hợp tan theo con nước vơi đầy, theo từng buổi chợ đông, chiều muộn. Họ buôn bán trên sông riết rồi quen, trở thành nghề nhưng cực khổ, vất vả. Nồi cơm, nồi canh nhiều khi nấu chín, chưa kịp ăn đã bị đổ sạch do bị sóng đánh mạnh làm chiếc ghe lắc lư. Đêm đến, ngủ không trọn giấc, gặp khi mưa to, giông, gió lớn thì không sao nhắm mắt được, lòng phập phồng lo sợ, mong gió, mưa sớm tạnh, mong trời mau sáng. Nghe chuyện đời sông nước của ông Thuận, tôi biết thêm chuyện tình duyên của đôi vợ chồng ấy gắn kết với sông nước lênh đênh. Rằng ông bà phải lòng, gá nghĩa nhau khi cả hai cùng neo đậu ghe ở chợ nổi Phong Điền (Cần Thơ) chờ mua trái cây chuyển về Cà Mau bán.

Vợ ông Thuận vốn quê miệt vườn Cần Thơ, nhưng "không một cục đất chọi chim”, sống bằng nghề buôn bán trên sông - cái nghề đối với bà là cha truyền, con nối. Bà kể: "Hồi nhỏ theo ông nội đi ghe tứ xứ, khi thì ở Châu Đốc, Long Xuyên rồi về Cao Lãnh, Sa Đéc, Chợ Lách, Bến Tre, đi qua Vĩnh Long, đáo về Cần Thơ, xuống Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… Dù đậu ghe ở bất cứ nơi đâu, nhưng hôm nào thấy ông lên chợ mua lỉnh kỉnh thức ăn về nấu nướng, sau đó bày ra cúng và mời bạn ghe xung quanh cùng lai rai thì mới hay ông cúng giỗ ông bà, tổ tiên.

“Rồi khi năm hết,Tết đến, vào chiều ba mươi, ông tôi đều nấu mâm cơm, canh bày ra sạp ghe cúng ông bà về ăn Tết với cháu con. Tôi không nhớ hết đã cùng ông nội đón giao thừa mừng năm mới bao nhiêu lần nơi cửa sông, bến nước. Và qua Tết, năm nào cũng vậy, ông đều chọn ngày mùng chín tháng giêng làm ngày xuất hành, tiếp tục bắt tay vào công việc làm ăn với niềm tin sang năm mới mua may, bán đắt, gặp nhiều điều hên. Đến bây giờ, dù cuộc sống còn khổ cực, vất vả, khó khăn nhưng vợ chồng tôi vẫn giữ gìn nền nếp gia phong ấy”.

Nhiều “hộ ghe hàng” đang neo đậu tại chợ nổi phường 8 đều gặp nhau ở cái chữ “nghèo” nên phải chọn nghề buôn bán trên sông nước làm kế mưu sinh, bươn chải trong cuộc sống. Dù mỗi người một hoàn cảnh, một quê hương nhưng khi gặp nhau ở một chợ, neo đậu ghe cùng khúc sông thì họ sống với trách nhiệm cộng đồng rất cao. Họ kết nghĩa anh em bầu bạn, tri âm, tri kỷ và không ít người kết nghĩa thông gia, giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn, khó khăn. Hèn gì mà cha ông ta ngày xưa đã nói: “Bớ chiếc ghe sau chèo mau tôi đợi. Khúc sông này bờ bụi khó qua”.

Ngoài sự cần cù, chịu thương, chịu khó và phải biết nhẫn nhục còn đòi hỏi sự khéo léo, nhanh nhạy trong nắm bắt thị trường, nhất là qua từng buổi chợ, ở từng nơi đều phải biết tích lũy kinh nghiệm sống. Tuy vậy, họ tin vào hên - xui, may - rủi, tin vào “Bà Cậu” trên sông trong mua bán. Họ quan niệm đầu có xuôi thì đuôi mới lọt, mua nhanh - bán nhanh, mua may - bán đắt nên khi mua hàng xuống ghe bao giờ họ cũng vui vẻ ra mặt, nhanh nhẹn trong từng động tác. Và, cứ mỗi buổi chợ sáng ra, họ cúng vái Bà Cậu cầu mong gặp người mở hàng “đắt”. Để lấy may mắn lúc mở hàng, người bán thường rao sát giá mặt hàng nhưng cũng không bán liền mà chờ người mua mặc cả một, hai lời để họ nài thêm đôi ba câu. Khi thuận mua, vừa bán thì họ tạm yên lòng vì đã tìm được người mở hàng may, hy vọng buổi chợ ấy bán được.

Tương lai chợ nổi ở đây ra sao? Theo giám đốc Sở Thương mại - Du lịch Cà Mau cho biết: “Tỉnh đang tích cực đầu tư quy hoạch chợ nổi trên sông nhằm giải tỏa chợ nổi tự phát hiện nay, đảm bảo an toàn giao thông đường thủy, tạo điều kiện cho người dân buôn bán ổn định trên sông lâu dài, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, nguồn nước. Hình thành điểm tham quan du lịch chợ nổi trên sông, đây là cảnh quan đặc thù của một đô thị vùng sông nước.” Theo đó, khu vực chợ nổi này quy hoạch đầu tư xây dựng trên sông Gành Hào, phường 7, TP Cà Mau với quy mô diện tích gần 11,5ha, gồm nhiều phân khu chức năng.

Ngày xuân đi chợ nổi là về với một vùng sông nước thanh bình, sống lại với nền văn hóa sông nước sôi động mà sâu lắng. Chắc chắn một điều, nét văn hóa của chợ nổi sẽ còn sống mãi với nền kinh tế nông nghiệp.

Mai đây, cho dù chợ trên bờ quy hoạch với cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng khang trang, sạch đẹp; những siêu thị mọc lên theo xu thế phát triển của thời đại văn minh, hiện đại đến đâu đi nữa thì chợ nổi vẫn tồn tại, phát triển như một yếu tố văn hóa tinh thần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng dân cư vùng sông nước Cà Mau nói riêng và vùng đồng bằng Nam Bộ nói chung.

Bao giờ sông cạn nước thì chợ nổi mới không tồn tại. Có lẽ đây là một triết lý sống của những người mà qua nhiều thế hệ, gia đình họ chuyên sống bằng nghề mua bán trên sông.

Dân Trí + internet

Văn hóa dân tộc Bahnar ở Đê Ktu - Gia Lai

Đê Ktu thuộc thị trấn Kon Dơng (huyện Mang Yang) cách TP. Pleiku 30 km đi theo quốc lộ 19, có 100 hộ dân, khoảng gần 500 nhân khẩu dân tộc Bahnar sinh sống.

Giữa màu xanh của ruộng lúa, nương bắp, ngôi nhà rông nằm uy nghi ngay cổng làng thể hiện ý chí, sức mạnh của cộng đồng văn hóa dân tộc Bahnar. Giữa làng có nhà rông truyền thống Ba-na mái tranh, cột và sàn bằng gỗ, rộng gần 400m2.

Nhà rông là biểu tượng vô cùng quan trọng đối với đời sống tâm linh và tinh thần của dân tộc Tây Nguyên, bên cạnh giá trị vật chất nó còn ẩn chứa văn hóa tâm linh, là niềm kiêu hãnh, là ước vọng của con người trước thiên nhiên, vũ trụ. Mọi sinh hoạt văn hóa cộng đồng đều diễn ra tại đây, là nơi mọi người quây quần bên bếp lửa nghe người già kể Khan, nơi tụ họp hàng đêm nghe những câu chuyện truyền thuyết về dân tộc mình…

Chính giữa nhà rông được dựng cây nêu để rượu ghè dọc hai bên dùng cho những dịp sinh hoạt và du khách đến thưởng thức. Xung quanh nhà rông diễn ra cuộc sống thường nhật của người dân trong làng, du khách có thể đến để tìm hiểu thêm về ăn, ở của đồng bào Bahnar...

Trước đây, mỗi năm dân làng chỉ gieo 1 vụ lúa rẫy và trồng sắn, ngô. Đê KTu có 90 hộ thì 60 hộ thuộc diện đói nghèo, 90% trẻ em trong độ tuổi không được đến trường. Bà con bệnh tật chỉ biết cúng Giàng.

Do chuyển đổi cơ cấu cây trồng, làm lúa nước nên đời sống của bà con được cải thiện.

Năm 2004, có 10 hộ thu nhập đạt mức 50 triệu đồng, 30 hộ có mức thu nhập từ 30-40 triệu đồng. Trong làng không còn hộ đói nghèo, 95% gia đình có phương tiện nghe, nhìn, làm được nhà xây, nhiều nhà còn sắm được máy cày, xe công nông... Đời sống vật chất, tinh thần của người dân, diện mạo của làng đổi thay từng ngày.
Cùng với phát triển kinh tế, nét sinh hoạt văn hoá cộng đồng, việc duy trì phong tục tập quán của đồng bào dân tộc Ba-na vẫn được gìn giữ và phát huy. Các lễ tục: Cúng bến nước, cúng thần nhà rông, đặt tên cho người mới sinh, kết nghĩa anh em... vẫn được duy trì. Các nghệ nhân trong làng còn lưu giữ được nhiều điệu múa dân gian, trường ca, truyện cổ Ba-na truyền lại cho các thế hệ con cháu. Làng lưu giữ được 20 bộ chiêng cổ, đàn goong, đàn t’rưng với 340 chiếc, 53 khung dệt cổ truyền, 160 bộ trang phục truyền thống. Nghề rèn, nghề săn bắn bằng nỏ luôn được phát huy và bảo tồn giá trị truyền thống.

Đê KTu được Công ty Du lịch tỉnh xây dựng thành “Làng du lịch văn hoá dân tộc Ba-na”. Ban ngày du khách được thăm quan cuộc sống đời thường của bà con dân tộc Ba-na, xem tượng nhà mồ, bến nước, dệt thổ cẩm, ăn cơm lam, thịt nướng. Buổi tối xem văn nghệ, cồng chiêng do các nghệ nhân và đội văn nghệ của làng biểu diễn. Đê KTu làng văn hoá kiểu mẫu, làng du lịch văn hoá Ba-na, niềm tự hào của đồng bào dân tộc Ba-na ở Tây Nguyên nói chung và tỉnh Gia Lai nói riêng. Gia Lai đang thực hiện chủ trương nhân rộng mô hình làng Đê KTu trong các vùng nông thôn đồng bào dân tộc Ba-na.
Khách du lịch đến đây sẽ được hòa mình vào không khí đó để cảm nhận một cách chân thực và sâu sắc sẽ trở thành những kỷ niệm khó quên.

Tổng hợp từ Tintucdulich, Dân tộc và phát triển

Thứ Sáu, 3 tháng 9, 2010

Lễ hội Hòn Chén

Đền Hòn Chén hay Ngọc Trản Sơn - là một trong mười sáu di tích được xếp hạng danh mục quần thể di tích Huế, di sản văn hóa thế giới.

Hòn Chén từ xưa đến nay được mọi người biết đến không chỉ là một di tích danh thắng mà còn có lễ hội dân gian thờ và rước sắc mẫu Thiên Yana. Hằng năm vào dịp tháng ba và tháng bảy âm lịch, tín đồ từ khắp mọi miền đất nước đổ về đây dự lễ hội đền Hòn Chén.

Theo truyền thuyết, Hòn Chén (còn gọi là Ngọc Trản Sơn) là nơi Thánh Mẫu Thiên Yana xuất hiện để cứu hộ chúng sinh. Ngọc Trản vốn là ngọn núi thấp, ăn từ chân dãy Trường Sơn chạy về phía động, đến làng Hải Cát, huyện Hương Trà thì dừng lại ở tả ngạn sông Hương.

Đến đây, dãy núi như bị dồn nén lại, tạo thành ngọn Ngọc Trản, cây cối xanh tốt, soi bóng xuống dòng sông . Khúc sông qua Ngọc Trản được xem là sâu nhất của dòng Hương Giang. Người xưa chọn Ngọc Trản Sơn để dựng đền thờ. Trên đỉnh núi, có một hố trũng khá rộng, lúc mưa, nước đọng lại trông như cái chén nước khổng lồ, vì thế dân gian đặt tên là Ngọc Trản Sơn - hay còn gọi là Hòn Chén.

Không biết ngôi đền thờ ở Ngọc Trản Sơn có tự bao giờ, chỉ biết rằng người Chăm xưa từng thờ cúng ở núi này, đến thời nhà Nguyễn, các vua, chúa tiếp tục tu sửa, mở rộng đền - Đền Ngọc Trản thờ Thánh Mẫu Thiên Yana với những hình thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc sâu xa là tín ngưỡng Thiên Tiên Thánh giáo với tục thờ Mẫu, cũng như ở miền Bắc thờ Mẫu Vân Hương, hay ở miền Nam thờ Mẫu ở núi Bà Đen, hoặc Ponaga ở Tháp Chàm - Nha Trang vậy.

Thiên Yana Thánh Mẫu, nguyên xưa vốn là nữ thần của người Chăm có tên là PôYangInô-Nagar, gọi tắt là PôNagar, tức thần Mẹ Xứ Sở mà theo truyền thuyết Chăm là thần sáng tạo ra đất đai, cây cối, rừng, lúa, bắp... Trong chín vị vua triều Nguyễn thì vua Đồng Khánh là một tín đồ rất ngưỡng mộ vị Thánh Mẫu này. Vì vậy, năm 1886 ông đã cho tu sửa đền và đặt tên là Huệ Nam Điện (Huệ Nam có nghĩa là ban ơn huệ cho nước Nam).
Vua Đồng Khánh còn làm thơ văn ca tụng công đức của Mẫu Thiên Yana. Chính vua đã ban hành việc dùng Quốc lễ để tế tại Huệ Nam Điện. Theo lệnh vua, vào dịp xuân - thu nhị kỳ hằng năm đều tổ chức tế lễ, vị chủ tế là một triều thần. Sau vua Đồng Khánh, các vị vua chỉ cử quan thần tới chủ tế một lần vào tháng ba, còn tháng bảy dân làng Hải Cát tự tổ chức.

Lễ hội đền Hòn Chén, lễ nghênh thần là lễ lớn nhất, trong đó có đám rước Mẫu Thiên Yana. Đám rước được cử hành trên những chiếc thuyền ghép lại với nhau (gọi là bằng). Cùng với những chiếc bằng, nhiều thuyền đơn, thuyền đôi đi theo đám rước. Thuyền nào cũng được trang trí trông rất đẹp. Lễ nghênh thần được tổ chức trang nghiêm, người đi dự lễ mang mũ, quạt, áo quần sặc sỡ.

Phường bát âm với những bài hát chầu văn ca ngợi Thánh Mẫu và chư vị thánh thần. Các tín đồ vừa đi vừa hát, múa trên những chiếc bằng trong trang phục lộng lẫy, dưới lọng kiệu là đồ thờ của Mẫu Thiên Yana. Tất cả tạo nên một không khí tín ngưỡng thiêng liêng, huyền ảo và sôi động.

Ngày nay, đền Hòn Chén được khách thập phương biết đến không chỉ là một di tích tôn giáo mà là một kiến trúc phong cảnh, non nước đẹp của xứ Huế. Với mười công trình kiến trúc xinh xắn của ngôi đền nằm lưng chừng sườn Đông - Nam của ngọn núi, đền Hòn Chén ẩn mình dưới bóng của rừng lá xum xuê bên dòng sông Hương trong xanh. Những năm gần đây, lễ hội Hòn Chén tấp nập, tưng bừng hơn. Vào ngày chính lễ có cả trăm chiếc thuyền, bằng trẩy hội trên dòng Hương, tín đồ của cả miền Trung về tụ hội, dâng lễ, rước Mẫu tháng ba năm nay, các tín đồ tín ngưỡng Thiên Tiên Thánh giáo lại có dịp trở về với Mẫu Thiên Yana với những sinh hoạt văn hóa dân gian tạo nên vẻ phong phú của nét văn hóa xứ Huế.

Theo quehuongonline.vn

Thứ Năm, 26 tháng 8, 2010

Huyền thoại tắm tiên... (phần 2)

Sơn nữ tắm tiên – tuyệt tác núi rừng ở Phú Thọ

Hàng chục sơn nữ bỏ công cụ lao động trên những tảng đá lớn, rồi hồn nhiên trút xiêm y, như thể là chốn không người. Các tiên nữ phơi làn da trắng ngần ngồi trên tảng đá, khua chân dưới nước, nói cười rổn rảng, khiến cảnh đại ngàn âm u trở nên đẹp như một câu chuyện cổ tích. Đó thực là một bức họa thiên nhiên tuyệt tác.

Con đường vào bản Bến Thân (Đồng Sơn, Phú Thọ) nhầy nhụa bùn đất, cheo leo dốc ngược. Ngày trước, để vào Bến Thân, không có cách nào khác là cuốc bộ gần chục km. Con đường đang được một đơn vị lâm nghiệp của tỉnh mở để vận chuyển nguồn nguyên liệu ra ngoài.
Thế nhưng, đi được một đoạn, tôi đành phải vứt xe máy bên vệ đường, rồi cuốc bộ hơn giờ đồng hồ mới vào tới Bến Thân. Cơn mưa bất chợt đã khiến con đường trở thành bãi sình lầy bùn đất nhão nhoét, trơn trượt không thể đi nổi.

Bến Thân hiện ra với vài nóc nhà co cụm dưới thung lũng, chìm nghỉm trong sự bao bọc của rừng rậm.

Bến Thân là bản của người Dao, là nhóm người di cư từ Sơn La về lập bản từ những năm 60 của thế kỷ trước.
Hiện Bến Thân vẫn chưa có điện, nhà nào khá giả thì sắm máy thủy điện cá nhân, thắp vài bóng phập phù. Đại đa số vẫn dùng đèn dầu như người miền xuôi mấy chục năm trước.

Theo Phó Chủ tịch xã Hà Thanh Vận, chính vì cuộc sống tự cung, tự cấp giữa rừng già, ít giao lưu với bên ngoài vì đường sá xa xôi hiểm trở, nên đồng bào nơi đây vẫn giữ được những phong tục tập quán cổ xưa, trong đó có tục “tắm tiên” dưới suối.

Dòng suối Thân mát lành cắt con đường dẫn vào Bến Thân, chảy uốn lượn một vòng quanh bản trước khi chảy ra bản Xuân, xuống tận Lai Đồng để hòa vào sông Bứa.

Cô giáo tiểu học Lý Thị Thơm đã dẫn tôi cuốc bộ nửa ngày trời để đi tìm thượng nguồn suối Thân. Dòng suối này chảy ra từ bụng dãy núi đá vôi hùng vĩ.


Cô giáo Thơm cùng tôi chui vào một hang động khổng lồ, đi miên man mãi không hết lòng núi. Có một dòng sông ngầm chảy ào ào trong bụng dãy núi đá vôi đó.

Con suối Thân nhận nước từ lòng núi, nên mát lạnh trong mùa hè và ấm áp trong mùa đông. Nước trong đến nỗi, những vũng nước sâu vài mét vẫn nhìn thấy con cua đá đang bò lổm ngổm.

Chị Lý Thị M, người đàn bà góa chồng, ở tuổi ngót 40 vẫn đẹp rực rỡ như một bông hoa rừng nhẹ nhàng cởi chiếc gùi trên lưng, trút bộ quần áo lấm lem rồi hồn nhiên khỏa mình dưới dòng nước trong mát. Làn da trắng ngần lấp lánh, sóng sánh trong làn nước phản chiếu ánh mặt trời.

Tôi nhảy lên một tảng đá chụp ảnh lia lịa. Người đàn bà hai con này bẽn lẽn giấu kín mình sau vạt áo, đôi má chợt ửng đỏ. Chị bảo: “Mình già rồi, đừng chụp ảnh nữa, xấu hổ lắm. Nếu nhà báo muốn chụp hình thì chiều mình dẫn nhà báo lên bến tắm, ở đầu nguồn suối Thân, cuối bản cơ. Ở bến tắm đó nước trong vắt, mới có nhiều người đẹp”.

Khi mặt trời đã bắt đầu ngấp nghé đỉnh núi, hoàng hôn đỏ rực trên những mỏm núi gần núi xa. Bóng tối đã bắt đầu chìm ngập dưới các thung sâu.

Đứng trên sườn núi nhìn xuống, thấy từ những con đường mòn vắt vẻo trên sườn núi, từng đoàn người vác cuốc xẻng, gùi nặng trên vai đổ về bến tắm ở cuối bản.

Tôi và chị Mai lội bộ ngược suối, đến một tảng đá lớn, bến tắm là một bãi đá rộng mênh mông, nơi dòng suối Thân lắng nước từ thượng nguồn đổ về, rồi mới tiếp tục chảy xuống hạ nguồn.

Hàng chục sơn nữ bỏ công cụ lao động trên những tảng đá lớn, rồi hồn nhiên trút xiêm y, như thể là chốn không người.

Các tiên nữ ngồi trên tảng đá, phơi làn da trắng ngần, khua chân dưới nước, nói cười rổn rảng, khiến cảnh đại ngàn âm u trở nên đẹp như một câu chuyện cổ tích.


Khi đó, tiếng chim rừng ngừng hót, đàn vượn cãi nhau chí chóe trên núi Lìu cũng im bặt. Hình như, gió cũng ngừng thổi.
Nhìn từ xa mọi thứ đều mờ ảo trước mắt, chỉ có làn da của các sơn nữ là nổi bật giữa cảnh âm u, nhập nhoạng của chiều tà. Dòng suối Thân già nua, trầm mặc cũng trở nên lung linh, huyền ảo.

Cách bến tắm của các sơn nữ, có một bãi tắm của “sơn nam”. Điều kỳ lạ là bãi tắm của đàn ông Bến Thân rất kín đáo, được che kín bởi những lùm cây, những tảng đá lớn, mà nếu không đến gần, thì sẽ không nhìn thấy gì cả. Hơn nữa, đàn ông Bến Thân không khỏa trần hoàn toàn như các sơn nữ. Trong khi đó, các sơn nữ đều khỏa trần 100% và hồn nhiên nô đùa giữa thanh thiên bạch nhật.

Trong khi ngồi quan sát, tôi nhận thấy, đàn ông Bến Thân vào bãi tắm đều đi lối khác, và khi tắm xong, họ lại vòng lối khác để về, chứ không xuôi suối Thân, qua bến tắm của các sơn nữ để về bản.

Chị Mai bảo, sở dĩ chị em phụ nữ Bến Thân tắm trần truồng một cách vô tư thoải mái như vậy là vì đàn ông nơi đây không có “thói” nhìn trộm người tắm bao giờ.
Theo chị Mai, mặc dù các sơn nữ hồn nhiên tắm tiên như vậy, nhưng nếu xuất hiện người lạ, họ lập tức trốn sau tảng đá, hoặc dìm sâu dưới nước rồi mặc quần áo lại.

Trời tối, đứng quan sát từ xa, không thể nào chụp ảnh được, nên tôi cùng Mai “đánh liều” đi qua bến tắm tiên của các sơn nữ Bến Thân. Thấy người lạ, các sơn nữ vơ vội quần áo mặc ngay dưới nước, rồi núp sau những tảng đá nhìn tôi như người ngoài hành tinh.
Một số sơn nữ cẩn thận, sợ có người lạ bất chợt đi qua thì quấn váy trên đầu trong khi tắm. Khi phát hiện ra người lạ, người đẹp tắm tiên chỉ việc gỡ váy trùm kín cơ thể, rồi nàng hồn nhiên lên bờ mặc quần áo.

Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Hữu Nhàn (Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Phú Thọ) là người đã có mấy chục năm ăn rừng ngủ thác nghiên cứu phong tục tập quán đồng bào ở Thanh Sơn và Tân Sơn. Ông luôn đau đáu với những giá trị văn hóa của vùng đất bản bộ Vua Hùng.

Theo ông Nhàn, cũng như nhiều tập tục khác, tắm suối là nét văn hóa có từ hàng ngàn năm trước. Sau mỗi buổi lao động mệt nhọc trên nương, các bà, các chị, các em đều trầm mình tắm gội dưới suối trước khi về nhà. Làn nước mát lành làm sạch sẽ bụi bặm, trả lại nước da trắng ngần mà núi rừng và tạo hóa hàng ngàn năm mới tạo nên được. Sau buổi tắm suối, bao nỗi mệt nhọc trôi theo dòng nước, con người như được tiếp thêm nguồn năng lượng mới.
Do đó, theo ông Nhàn, việc bảo tồn nét văn hóa này cũng là điều cần thiết.

Tôi chợt khi nghĩ rằng, chỉ thời gian không xa nữa, con đường vào Bến Thân hoàn thành, người miền xuôi và đồng bào Bến Thân sẽ có sự giao lưu văn hóa mạnh mẽ. Và rồi, nhiều phong tục tập quán đặc sắc của đồng bào nơi đây sẽ mất đi. Bến tắm cũng sẽ vắng bóng tiên nữ, giống như bến tắm ở bản Xuân và Lai Đồng thuở nào.

Du lịch, GO! - Theo Phạm Ngọc Dương / VTC News

PHẦN 1

Phong tục tập quán nên thơ này chắc chắn sẽ mất đi nếu người Kinh chúng ta chú ý quá nhiều.
Biết và để đó rồi trân trọng một tập tục hay của người vùng cao để nó còn tồn tại mãi ở đó một bản sắc dân tộc.
ĐGD

Huyền thoại tắm tiên... (Phần 1)

Huyền thoại tắm tiên Tây bắc

Người ta vẫn kháo nhau, lên Tây Bắc mà xem con gái Thái tắm tiên. Con gái Thái da trắng như hoa ban, uyển chuyển với những đường cong tuyệt mỹ. Con gái Thái dịu dàng, hiền thục…

Mới nghe có vẻ như thô và phàm tục, nhưng với những người đã từng ở Tây Bắc, hoặc am hiểu văn hóa Thái thì cảnh con gái Thái tắm tiên là một phần không thể tách rời trong văn hóa Thái và nếu thiếu cảnh trữ tình, nên thơ ấy, suối ngàn Tây Bắc sẽ kém đi vẻ lung linh huyền ảo. Tây Bắc sẽ phần nào kém đi vẻ đẹp dung dị nhưng vô cùng lãng mạn, nên thơ.


Người ta đi ngắm các cô gái hòa mình với thiên nhiên đậm chất hoang sơ và huyền thoại như ngắm ánh bình minh trong sương sớm, ngắm hoa ban khoe sắc mùa xuân, hay thả hồn trong một tiếng chim lảnh lót đầu non, chẳng khác nào được nồng say trong vũ điệu xòe, hay lâng lâng trong men rượu cần ngọt lịm, một điệu khắp trữ tình… để rồi tự lúc nào thấy mình trong sáng hơn, biết trân trọng nâng niu những gì mà tạo hóa đã ban cho con người, giúp con người hướng thiện hơn, có thêm nghị lực, niềm tin, vươn lên trong cuộc sống.

Các cô gái Thái ngay từ lúc còn nhỏ đã được các bà, các mẹ dạy cho cách thắt khăn nơi thắt lưng – xài yêu để có được thân hình tuyệt đẹp theo tiêu chí: Eo kíu manh po – nghĩa là thắt đáy lưng con tò vò, giống như thắt đáy lưng ong của các cô gái miền xuôi.

Còn mái tóc luôn được chăm chút gội bằng các loại lá thơm như hương nhu, sả, bồ kết… và chải chuốt bằng nước vo gạo nếp. Lại được tắm mình trong không khí trong lành của thiên nhiên hùng vĩ, bởi vậy cô gái Thái nào cũng cao ráo, trắng hồng, mái tóc đen dài mềm mại.

Không những thế, các cô còn rất giỏi trong những công việc nội trợ như làm ruộng, quay xa, thêu thùa, dệt vải, múa xòe… mà những câu dân ca Thái đã miêu tả được phần nào:

Nướng quả ớt thơm mùi đĩa chéo
Đụng vào khung cửi vải thành hoa
Tung nắm tấm thành ra đàn gà…,
Úp bàn tay trái đã thành hoa đào

Ngửa bàn tay phải đã thành hoa tươi đất Mường Hỏ
Ngồi xổm thêu được thành hình chim phượng hoàng
Ngồi nghiêng quay sợi thành chùm hoa so se (dân ca Thái).

Vẻ đẹp chân chất, trong sáng đến mức thánh thiện của các cô gái Thái đã trở thành nguồn đề tài và cảm hứng vô tận cũng như làm nên sức sống cho bao tác phẩm thơ, ca, nhạc, họa…

Bởi vậy, khi ngắm các cô gái Thái dịu dàng trong trang phục truyền thống: váy đen bó sát người, xửa cỏm – áo ngắn lung linh đôi hàng mák pém – cúc bạc hình bướm, khăn piêu bồng bềnh trên đầu như áng mây xuân sớm tôn sắc hồng má đào thiếu nữ, một dải khăn xanh là điểm nhấn nơi thắt lưng và dây xà tích bạc buông lơi bên hông, mỗi người đều như thấy ngân rung trong lòng một cảm giác thanh cao trước một vẻ đẹp hoàn mỹ đến mức thật khó đặt tên, cứ dư ba trong lòng người và chợt thổn thức dâng dâng trong ký ức mỗi khi xa nhớ về Tây Bắc…

Sau mỗi buổi lao động về, các cô gái nghỉ chân bên suối, làn nước mát lành làm sạch sẽ bụi bặm, trả lại nước da trắng ngần của mẹ, của cha và tinh hoa của núi ngàn chung đúc hàng ngàn năm mới có được. Bao nỗi mệt nhọc trôi theo dòng nước, con người như được tiếp thêm nguồn năng lượng mới.

Nếu các chàng trai thường chọn nơi vực sâu, nước xiết để vẫy vùng thỏa sức trai thì các cô gái lại tìm nơi dòng chảy nông hơn, kín đáo.

Các cô quay mặt vào bờ, ý tứ cởi cúc áo, chiếc váy lúc này được kéo cao che kín khuôn ngực thanh tân, lội xuống nước tới đâu váy được nâng dần lên đến đó. Cho đến khi dòng nước đủ che kín thân mình, các cô gái khéo léo quấn chặt váy trên đầu như một bông hoa, dù bơi lội, đùa nghịch, chiếc váy vẫn không thể rơi được.

Thân hình tuyệt mỹ của các cô gái ẩn hiện dưới dòng nước biếc, thực đấy mà ảo đấy. Các cô hồn nhiên té nước, trong ánh chiều Tây Bắc, từ những bàn tay như bông hoa ban huyền thoại tung lên muôn ánh cầu vồng.

Dòng suối như lòng mẹ ôm ấp vuốt ve tấm thân tuyệt mỹ, sỏi đá nơi lòng suối thêm rạng ngời ngần trắng, chim rừng ngưng hót, gió như ngừng thổi, chỉ còn xanh ngắt đến thẫn thờ ngàn con mắt lá của đại ngàn.

Tất cả như lặng đi trước kiệt tác của núi ngàn Tây Bắc…
Những dòng suối của khắp vùng Tây Bắc thường có những cái tên vô cùng thơ mộng, chở đầy khát vọng về cuộc sống ấm no hạnh phúc, về tình yêu trắng trong chung thủy: Suối Tiên, Suối Mơ, Suối Xuân…

Không biết có phải từ khi các cô gái Thái khỏa mình trong dòng biếc, những dòng suối già nua trầm mặc chợt nhận ra mình có một trái tim và tâm hồn trẻ trung, để rồi cứ mộng mơ, khao khát một cuộc sống bình dị, yên vui – ước mơ cháy bỏng của bao đời? Để rồi những ai được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của suối nguồn Tây Bắc trong một chiều các cô gái Thái tắm tiên, chợt thấy mình trong sáng hơn, thanh cao hơn, như được hòa mình cùng đất và người của Tây Bắc huyền thoại…

Du lịch, GO! - theoTrần Nhương.com + internet

Tiếp PHẦN 2